Home Blog

Tại sao sự trưởng thành tâm lý tinh thần đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta?

0

Tại sao sự trưởng thành tâm lý tinh thần (Psychospiritual maturity) rất quan trọng (và Thiền định là chưa đủ)?

psychospiritual

Khi còn trẻ, tôi được kể một câu chuyện cực kì hấp dẫn. Giai thoại giữa nhà tâm lý học nổi tiếng Carl Jung và một người da đỏ Ấn Độ lớn tuổi kết luận rằng “người da trắng” là bọn mất trí vì họ trông lúc nào cũng hỗn loạn và bất ổn, và mãi có vẻ hấp ta hấp tấp:

“Họ nói rằng họ dùng đầu để nghĩ…còn chúng tôi nghĩ ở đây” – Antonio nói và chỉ vào trái tim mình.

Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi trong việc thay đổi nền văn hóa nhiều lần trong cuộc đời mình – từ Nam Mỹ đến Ấn độ và bây giờ là Úc, chứng kiến vô số những cuộc đời và con đường được mở ra, tôi đã quan sát thấy điều tương tự. Có một sự khác biệt nổi bật giữa tâm tính của phương Đông và phương Tây, và mọi thứ được đánh dấu “tinh thần/tâm linh” nói riêng thì luôn luôn bị cường điệu hóa và quảng  bá một cách sai lệch. Sự tự hoàn thiện được mô tả như một con đường rải gạch vàng (yellow brick road) sẽ đưa ta đến sự “giác ngộ/ enlightenment”: một thứ gì đó tương tự với Las Vegas với ánh đèn neon nhấp nháy, vẻ đẹp và niềm vui vô bờ.

Và mặc dù chúng ta đã được dạy để thực hành Yoga, uống những loại nước tự nhiên, nói ra những lời xác nhận và thiền định mỗi ngày sẽ giúp chúng ta được tự do – tuy nhiên, một vài điều quan trọng sống còn lại bị thiếu.

Sự thật về bản chất tâm linh/tinh thần của chúng ta

Chúng ta đang sống trong thời điểm mà những giáo lý liên quan đến “sự tăng trưởng cá nhân” và “sự phát triển tâm linh” đang trở nên phổ biến đến mức hầu hết đã bị pha loãng và tưới xuống trở thành một cấu trúc cơ bản dễ hiểu. Kết quả điển hình đó là một sự hời hợt và cách tiếp cận để  “cảm thấy tốt/feel good” đối với sự phát triển cá nhân (self development) thứ thường không có hiệu quả trong hầu hết các trường hợp và không mang lại những thay đổi đáng kể, lâu dài.

Việc làm giảm giá trị toàn bộ ý tưởng về thức tỉnh tâm linh trở thành một thứ mốt (fad) và trào lưu nhất thời có thể mang đến những hậu quả nghiêm trong. Một trong những ví dụ mạnh mẽ nhất mà tôi từng chứng kiến trong cuộc đời mình đó là một người đàn ông mà tôi từng gặp – người gặp một biến cố lớn và trải qua sự mất mát gia đình. Thậm chí sau 20 năm thực hành thiền định và mọi loại hình “tâm linh”, ông vẫn rơi vào trầm cảm sau đó và mất rất nhiều thời gian để chữa lành. Nhưng, tại sao lại thế?

Thiền định rõ ràng là không đủ – và tất nhiên bao gồm cả những thực hành tinh thần khác mà ông đã thử.

Ngày nay, rất nhiều phương pháp thực hành tâm linh hiện đại (bao gồm thiền định) hoạt động dựa trên một tiền đề đơn giản “Nếu bạn làm điều này bạn sẽ nhận được điều đó/If you do this you will get that”, giới thiệu “101 điều cần làm”, hướng dẫn mô tả chi tiết tất cả những lợi ích và phần tặng thêm về việc “cảm giác dễ chịu ra sao”, mà hoàn toàn không đề cập đến bất kì chướng ngại nào mà bạn sẽ phải trải nghiệm trên con đường đó. Những khối chướng ngại đó bao gồm những chủ đề như Vùng tối bên trong bạn (Shadow Selves), Vết thương vùng lõi (Core wounds), Mất kết nối với tâm hồn (Soul Loss) và Niềm tin cốt lõi (Core Beliefs). Vì vậy, trong khi chúng ta thực hành thiền định và đi qua những khối chướng ngại này (điều mà khi thực hành thiền định thường xuyên sẽ dẫn chúng ta tới)”, khi gặp chúng rồi “chúng ta sẽ phải làm gì?”. Chúng ta phải xử trí ra sao với tất cả những phát hiện thực sự “nghiêm trọng” này?

Kết quả tự nhiên là thay vì trở thành một sự hoàn thiện cuối cùng, điều mà lẽ ra chúng ta có thể đạt tới, chúng ta tự chia rẽ mình thành “Những bản thân cao hơn (Higher Selves)/Bản thể thật sự/Tâm hồn” – những điều chứa đựng mọi khía cạnh về việc cảm thấy tốt hơn, dễ chịu hơn và từ chối thứ Bản thể thấp hơn (Lower Selves) – bao gồm những khía cạnh thô thiển, tối tăm và đáng xấu hổ của chính ta. Sẽ hình thành thứ suy nghĩ rằng khi chúng ta tập trung cao độ vào thứ Bản thế cao hơn và tránh né “bản chất nguyên thủy”, thông thường của mình thì chúng ta có thể tới một Bản thể giác ngộ (Awakened Self).

Thật không may, thực hành thiền định – giống như nhiều phương pháp thực hành khác – có thể sẽ tiếp tay cho huyền thoại về một cái Ngã bị phân chia (divided self); sự nhị nguyên bên trong (inner duality)luôn xem điều kiện cơ bản cấu thành nên con người (our basic human condition) là tội lỗi, thiếu sót và không đủ tốt đẹp. Với suy nghĩ cho rằng chúng ta chỉ nên tập trung vào việc khám phá “một bản thể cao hơn”, cuối cùng chúng ta bắt đầu chối bỏ hoặc chạy trốn khỏi bất kì phần nào mà ta cho rằng không hoàn hảo, tiếp tục tự phá vỡ bản thân trong quá trình này.

Vì lý do này, điều quan trọng là chúng ta học cách cân bằng sự trưởng thành tâm linh của chúng ta với sự trưởng thành về tâm lý của chúng ta để chúng ta trở nên cân bằng, xác thực và toàn bộ con người. Tôi gọi đây là cuộc hành trình tâm linh.

Ví lý do này, điều quan trọng đó là việc chúng ta cần học cách cân bằng giữa sự “trưởng thành về mặt tâm linh/spiritual maturity” và “sự trưởng thành về mặt tâm lý/psychological maturity” để chúng ta có thể trở nên cân bằng, xác thực và toàn vẹn hơn. Tôi gọi đây là “chuyến hành trình tâm lý tinh thần/Psychospiritual journey”.

Chuyến hành trình tâm lý tinh thần ( Psychospiritual journey) bao gồm điều gì?

Ý tưởng đằng sau chuyến hành trình tâm linh (spiritual journey) của sự chuyển đổi bên trong chỉ đơn giản là: con người chúng ta đang không sống một cách trọn vẹn nhất và hầu hết chúng ta đều đang ngủ.

Vậy Chuyến hành trình tâm lý tinh thần/ Psychospiritual journey là gì?

Trong một khoảng thời gian rất lâu, chúng ta đã được dạy rằng “phải phá bỏ Cái ngã”, là cách giúp ta tránh né, kìm nén, chối bỏ hoặc bỏ bê các khía cạnh “tối” và “tính con/animal” của bản thân như một căn bệnh dịch chứ không phải là cách để ta khám phá một cách đầy đủ và toàn diện để vượt qua nó.

Hành trình tâm lý tinh thần của chúng ta là một con đường cân bằng, khám phá bản thân chúng ta và cao hơn nữa. Sự trưởng thành về mặt tâm lý và tinh thần không chỉ liên quan đến việc đào sâu vào bản chất tâm linh mà còn làm sâu sắc thêm chúng ta về mặt tâm lý. Điều này liên quan đến sự chín muồi của trí tuệ nội tại (inner wisdom) để có thể đối mặt với  bóng tối cũng như ánh sáng  của bạn, giải phóng bản thân khỏi những nỗi sợ hãi, giận dữ, hận thù, những nỗi buồn đau và cảm giác thiếu can toàn trong bạn.

Người Phương Tây thường bị lạc lối và cuốn vào trong tâm trí, và những công cụ đến từ Phương đông như Thiền và Yoga (hay nhiều công cụ khác) là những điều tuyệt vời giúp chúng ta kết nối lại với không gian nội tại. Nhưng vấn đề là bởi chúng ta chỉ luôn tập trung vào nơi tâm trí, chúng ta đã vô tình giúp nảy sinh ra rất nhiều những vấn đề tâm lý cần được giải quyết trước khi chúng ta có thể thực sự quan sát chính mình (từ không gian nội tại bên trong, nơi ta đang bị mất kết nối). Những khía cạnh như sự tự nghi ngờ  (self-doubt) và tự loại bỏ (self rejection) là hai trong số rất nhiều những vấn đề mà chúng ta phải đối mặt – thực trực tiếp làm cản trở sự tiến bộ thực sự của chúng ta.

Như Carl Jung đã từng nói:

“Sẽ không thể nào là một sai lầm lớn hơn khi một người Phương Tây thực hành Yoga Trung Quốc, vì điều đó sẽ chỉ giúp tăng cường ý chí (will) và ý thức (consciousness) của anh ta nhằm chống lại tiềm thức (unconscious) và mang lại hiệu quả về việc muốn tránh né. Chứng rối loạn thần kinh (neurosis) sẽ được tăng cường nhanh chóng sau đó. Tôi không biết phải nhấn mạnh sao cho đủ rằng “Chúng ta không phải người phương Đông, và rằng chúng ta có một điểm khởi đầu hoàn toàn khác biệt trong lĩnh vực này.”

Mặc dù quan điểm của Jung cho rằng “người Phương Tây nên tránh các phương pháp tự giúp đỡ bản thân có nguồn gốc từ Phương Đông” là một cách cái nhìn tương đối hạn hẹp (theo ý kiến của cá nhân tôi), tuy nhiên, ông cũng đã đưa ra một quan điểm rất thú vị về sự khác biệt cơ bản của tâm trí phương Tây khi được dùng để tiếp cận các kỹ thuật phương Đông – rằng tâm trí phương Đông có xu hướng cân bằng hơn, còn tâm trí phương Tây cần phải học cách để hài hòa cả hai phần ý thức (conscious) và tiềm thức (unconscious) của tâm thần (psyche).

Đó là lý do tại sao sự phát triển nội tại của ta phải được trải ra  giữa hai quá trình song song: Con đường của sự Tự chấp nhận (Self-Acceptance) và Tự khám phá (Self-Exploration) – những điều giúp chúng ta áp dụng cho quá trình thực hành tâm linh. Khi ta có sự chấp nhận sâu sắc và trưởng thành hơn, chúng ta có khả năng tự khám phá và thành thật ôm lấy tất cả những gì thuộc về mình.

Tìm kiếm con đường bằng trái tim

Mục tiêu của bài viết này không phải để chứng minh rằng các kĩ thuật Thiền phương Đông là vô ích đối với người phương Tây. Trên thực tế, với một số người, các kĩ thuật này thật sự rất tuyệt với và mang lại những thay đổi to lớn trên phương diện cá nhân.

Nhưng nếu bản thân bạn không tìm thấy bất kỳ lợi ích đáng kể nào từ Thiền định, đừng vội nản lòng hay mắc kẹt với những vết thương tâm lý sâu sắc hay sự ức chế cảm xúc (repressions), vẫn có những phương pháp có khả năng giúp bạn đến từ sự kết hợp các yếu tố của các liệu pháp tâm lý (psychotherapy (như catharsis) và thiền động (active meditations) (thay vì những phương pháp thụ động cũ). Điều này sẽ giúp bạn biểu hiện một cảm giác lành mạnh về bản thân trước khi bạn thực sự tập trung đến việc vượt qua cảm giác của mình về bản thân (transcending your sense of self.)

Theo kinh nghiệm của tôi với tư cách là một người thực hành Shaman giáo (shamanic practitioner), đó là điều cần thiết để chúng ta đi qua những tầng thấp/sâu/bên dưới của chính mình (Under/Lower World) – được biết đến trong Vũ trụ luận Inca là  thế giới bên dưới (Ukhu pacha), phát triển lòng dũng cảm để gặp được những con quỷ bên trong ta trước khi chúng ta đến được Thế giới vật chất thực tại (Kay pacha hay Middle Worlds) và cuối cùng là  Thế giới bên trên/Upper Worlds (Hanaq Pacha).

Con đường tìm kiếm tâm linh của chúng ta được phản ánh trong nhiều giáo lý thần bí và được gọi là As Above, So Below*  trong truyền thống Hermetical và có thể được nhìn thấy trong biểu tượng “Cây sự sống/ “Tree of Life” – khá phổ biến trong nhiều nền văn hóa.

As Above, So Below* Cái gì ở Dưới tương ứng với cái gì ở Trên, và cái gì ở Trên tương ứng với cái gì ở Dưới, để đạt tới những phép nhiệm màu của Nhất thể hoặc theo cách dịch khác: Vũ trụ này được tạo dựng theo một cơ cấu chung. Trên dưới như nhau, để cho thấy điều huyền diệu này tất cả là một.

Nếu bạn đang tìm kiếm một con đường để đi theo khi là người phương Tây, bạn có thể tìm thấy rất nhiều từ những nền văn hóa,  bí truyền có nguồn gốc phương Tây như Kabbalah (thuật huyền bí của đạo Do Thái cổ đại), Neoplatonism (Thuyết Plato mới), Gnosticism (Thuyết ngộ đạo) và Alchemy (Thuật giả kim) – tất cả đều có liên kết chặt chẽ, mật thiết với Thiền định và sự phát triển tâm lý tinh thần (psychospiritual development).

Nếu bạn có bất cứ suy nghĩ hay ý kiến nào, chúng tôi rất mong muốn được lắng nghe bạn.

Nguồn:Psychospiritual Maturity

Facebook Comments

Làm thế nào để thứ tha?

0

Rất khó để thứ tha bởi vì, thông thường, chúng ta đúng và mức độ ngớ ngẩn, vô tâm và xấu tính của người khác lại vượt quá tầm, quá sức chịu đựng của ta. Tuy nhiên, khi đối mặt với những hành vi xấu xa nhất, có hai điều luôn đúng mà ta cần phải để tâm nhằm tránh quá nghiêm khắc với họ.

Đầu tiên, hãy nhớ rằng vì sao họ trở nên như vậy, ngu ngốc và độc ác đến thế. Mỗi tội lỗi của một người đều có sự tình ẩn khuất sau nó. Họ như thế bởi vì những khiếm khuyết trong quá trình phát triển của mình, những yếu tố mà chính họ không thể tự mình lựa chọn. Có thể nhân cách đó được định hình bởi nhiều vấn đề mà ta không thể thấy dù vẫn nhận thức được sự tồn tại của chúng.

Họ như thế bởi vì những khiếm khuyết trong quá trình phát triển của mình, những yếu tố mà chính họ không thể tự mình lựa chọn.

Một người kiêu ngạo bị mắc kẹt (tại vài thời điểm trong quá tình hình thành nhân cách của mình) trong môi trường mà lòng khiêm nhường và sự đúng mực bị dẫm đạp. Người quá khắt khe, hay bắt bẻ chuyện nhỏ nhặt, trong quá trình phát triển nhân cách, đã phải sống chung với những người không biết nắm bắt, thấu hiểu ý tứ của người khác nên anh ấy/cô ấy mới phải nói năng thẳng thừng như thế. Người nhát cáy, sợ sệt đã phải sống trong sợ hãi (tại một vài thời điểm nào đó); người khoe khoang học thói ấy khi sống chung với những người mà rất khó để làm họ vừa lòng. Phía sau mỗi thiếu sót, phía sau tất cả những điều không đúng và khó chấp nhận được về những người mà ta gặp đều là các chấn thương tâm lý mà họ đối mặt và bị tác động trước khi họ có thể xử lý chúng một cách đúng đắn. Họ phiền phức và khiến người khác phát điên nhưng họ trở nên như thế dù không hề mong muốn. Thứ tha là thấu hiểu nguồn gốc của tội lỗi và cái ác. 

Thứ tha là thấu hiểu nguồn gốc của tội lỗi và cái ác.

Điều thứ hai, nghe có vẻ rất kỳ lạ, là có rất nhiều vấn đề xuất phát từ phía bạn. Tất nhiên, không phải về việc một lỗi lầm nào đó khiến bạn mất niềm tin vào nhân tính. Mà là về việc bạn quên rằng mình cũng từng trải qua giống họ, bạn cũng từng thiếu sót rất nhiều. Một cách nhẹ nhàng, theo cách của riêng mình, bạn cũng từng phản bội. Một cách dễ nghe, bạn cũng từng là một tên thỏ đế. Một cách khiêm nhường, bạn cũng từng quên mất quyền hạn của mình. Và một cách vô tâm, bạn cũng từng sát muối vào vết thương của người khác. Chúng tôi không cần biết mọi điều về bạn để khẳng định những điều trên. Chúng tôi vẫn phải tha thứ cho bạn bởi vì – có thể không phải bây giờ, cũng không phải vì điều này mà vào một ngày nào đó, vì một điều gì đó – chúng tôi cần được thứ tha.

Thứ tha là thấu hiểu nguồn gốc của tội lỗi và cái ác.

Trong quá khứ, có thể ta thường xuyên ngước nhìn và cầu xin sự tha thứ từ thượng đế. Rồi ta làm điều đó ít dần, ít dần. Nhưng điều đó không làm giảm đi sự cần thiết của những khoảnh khắc khi ta thốt lên cụm từ có vẻ hoang đường nhất “Tôi xin lỗi” – hoặc thậm chí vượt qua cả những suy nghĩ đạo đức của mình để thốt lên những từ còn khó hơn nhiều, “Tôi tha thứ cho bạn”.

Facebook Comments

Hãy trở thành sự thay đổi mà chính bạn mong muốn ở người khác

0

Chúng ta dành rất nhiều thời gian cố gắng thay đổi người khác. Thật ra, họ có quá nhiều khiếm khuyết: họ ích kỷ, kiêu ngạo, thích bắt nạt người khác hay họ yếu đuối, lạnh lùng, tham lam và v.v.

Thế nên, ta cố gắng chỉ cho họ thấy và rồi họ thường đáp lại bằng thái độ chống đối, phủ nhận hoặc thờ ơ. Điều này mang đến cảm giác rất khó chịu, khiến ta tức giận và bực mình.

Tại sao mọi người lại không lắng nghe theo sự góp ý của chúng ta? 

Xét về hành vi, con người có khuynh hướng ngầm phân định hai quá trình: thay đổi người khác và thay đổi chính mình. Chúng ta biết chắc rằng mình phải thay đổi, đổi mới nhưng thường ta chỉ tập trung vào công cuộc thay đổi người khác. Chúng ta tiến hành đổi mới hành vi của mình dựa trên công cuộc phát triển của người khác. Chúng ta tuyên thệ rằng ta sẽ tốt tính hơn nếu họ trở nên tốt tính hơn, rằng ta sẽ bớt cáu ngắt nếu họ ngừng la hét. 

Tuy nhiên, chúng ta lại bỏ sót một điểm quan trọng: thay đổi hành vi của bản thân đối với người khác là cách nhanh nhất để thay đổi hành vi của họ đối với mình. Xét đến một mức độ đáng chú ý thì con người có khuynh hướng phản chiếu hành vi. Nếu đối phương giận dữ, tức giận với họ, họ sẽ trở nên giận dữ và tức giận ngược lại. Nếu đối phương đối xử nhẹ nhàng, họ cũng sẽ trở nên mềm mỏng. Nếu đối phương hành động khôn khéo, họ cũng sẽ sử dụng lý trí của mình để đáp trả. 

Chúng ta thường đứng trên vị thế rất ngược đời, nghĩa là trong khi đang ủng hộ hành động này, ta lại có hành động trái ngược. Ta có thể hơi giận dữ khi khuyên người khác bình tâm. Hoặc ta có thể khăng khăng bắt người khác phải biết cảm thông, thấu hiểu hơn. Ta thật đáng thương. Chính sự lo lắng về việc thay đổi người khác đã đưa chúng ta xa rời điều mà ta đang hướng đến. 

Hãy nhớ câu nói sau – câu nói thường bị nhầm lẫn là của Mahatma Gandhi, dù sao thì nó cũng rất hữu ích: “Hãy trở thành chính sự thay đổi mà bạn mong muốn ở người khác” Câu này chứa đựng một điều quan trọng: mức độ sáng suốt của việc trở thành tấm gương cho người khác noi theo thay vì ngồi giáo huấn trực tiếp. Việc làm này có một ích lợi lớn: chúng ta có thể kiểm soát bản thân trong khi rất khó để ra sức trực tiếp kiểm soát người khác.

Sự thất vọng của mình đối với người khác nên được chuyển hướng đến việc kiểm soát thứ mà ta có khả năng và có trách nhiệm: bản thân ta. Nhìn thấy ta có những phẩm chất tốt, người khác cũng sẽ được truyền cảm hứng để học hỏi ta. Và ngay cả họ không thay đổi ngay lập tức, ít nhất ta cũng có thể tự hào về nhân cách của mình, biết rằng ta có đủ sức mạnh và phẩm chất để bắt đầu trở thành sự thay đổi mà ta mong muốn thấy ở người khác. 

Hãy trở thành chính sự thay đổi mà bạn mong muốn ở người khác

Facebook Comments

Não của bạn lưu trữ được bao nhiêu cuốn sách?

0
Photo from medicalnewstoday.com
Photo from medicalnewstoday.com

“Con người mới chỉ sử dụng được 10% khả năng của não bộ” – ồ không đừng tin vào điều đó, vì câu nói này đã được chứng minh là sai rồi. Mọi phần não đều có chức năng của mình, và chúng ta luôn dùng tất cả mỗi khi làm bất kỳ điều gì.

Tuy nhiên, khả năng thực sự của não bộ thì vẫn đang bị đánh giá hơi thấp, ít nhất là ở khả năng lưu trữ. Vì mới đây, các chuyên gia tin rằng khả năng lưu trữ của não bộ có thể gấp 10 lần những gì đã tìm ra. Và để quy đổi cho rõ hơn, khả năng ấy cho phép chúng ta trữ tới… 4,7 tỉ cuốn sách trong đó.

Bạn sẽ sốc khi biết não mình trữ được bao nhiêu cuốn sách - Ảnh 1.

Cụ thể, các chuyên gia từ Viện nghiên cứu sinh học Salk (California, Mỹ) đã thử tính toán khả năng lưu trữ của các khớp thần kinh – nơi được cho là chịu trách nhiệm lưu giữ ký ức.

Họ nhận ra rằng, mỗi khớp có thể giữ khoảng 4,7 bytes thông tin. Não bộ của chúng ta có khoảng 100, thậm chí là 1 triệu tỉ (không đọc nhầm đâu) khớp thần kinh, vậy nên chúng ta có dung lượng tính bằng petabyte – tương tương 1.000.000.000.000.000 (1 triệu tỉ) bytes.

Mỗi petabyte tương đương với 20 triệu ngăn kéo chứa đầy tại liệu, video ở độ phân giải HD với tổng thời lượng trên 13 năm, 4,7 tỉ cuốn sách, và 670 triệu nội dung website.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa chúng ta có thể nhớ được ngần ấy thông tin. Những con số này chỉ là tổng số thông tin não người có thể trữ trên lý thuyết. Còn về mặt thực tế, chúng ta khó lòng đạt được điều đó.

Nhưng theo giáo sư Terry Sejnowski – tác giả nghiên cứu, kết luận này giống như “một quả bom trong lĩnh vực khoa học thần kinh.”

“Chúng tôi đã tìm ra chìa khoá thiết kế, về cách vùng đồi thị (nơi chịu trách nhiệm lưu giữ ký ức) hoạt động với năng lượng rất thấp, nhưng hiệu quả cao,”

“Tính toán mới cho thấy khả năng giữ thông tin của não bộ thực sự ấn tượng.”

  • Nghiên cứu được công bố trên tạp chí eLife.
  • Nguồn: Telegraph
Facebook Comments

Hội chứng mù mặt- Prosopagnosia Syndrome

0
Hội chứng mù mặt

Bạn là ai? Ai là tôi?

Trong một cuộc phỏng vấn cuối tháng 5/2013, ngôi sao điện ảnh Hollywood Brad Pitt đã thừa nhận anh không có khả năng nhận diện và nhớ mặt người khác chỉ sau vài lần gặp. Nam tài tử tâm sự: “Rất nhiều người ghét tôi vì họ nghĩ rằng tôi không tôn trọng họ. Xin thề với Chúa, suốt một năm nay tôi luôn phải nói câu “Chúng ta đã gặp nhau ở đâu nhỉ?”. Điều này chỉ càng khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn và làm mọi người bị tổn thương hơn. Khi họ gợi lại hoàn cảnh gặp gỡ, tôi nói: “Cảm ơn bạn đã giúp tôi”. Tuy nhiên, họ lại cảm thấy bị chọc giận thêm. Họ nói rằng, tôi là người tự kiêu, tự đại. Thú thực, tôi không thể nắm bắt được khuôn mặt ai đó. Tôi đang định đi kiểm tra bệnh tình của mình”.

Bản thân Brad Pitt đã nghĩ rằng, anh đang mắc hội chứng Prosopagnosia hay Face blindness – bệnh mù khả năng nhận diện. Khả năng nhớ mặt kém đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống xã hội của anh. Anh tránh tiếp xúc với mọi người, chỉ muốn ở nhà.

Chứng mù mặt là một căn bệnh xảy ra do chấn thương vùng não phải, bị lão hóa, di truyền hoặc cũng có khi là rối loạn gene, rất nhiều người mắc phải.

Heather Sellers, giáo viên dạy tiếng Anh tại trường Trung học Hope ở Holland (Michigan) không bao giờ nhớ được khuôn mặt người bà vừa được giới thiệu, cho dù có nói chuyện với họ hàng giờ. Vấn đề đơn giản là bà không thể nhận biết được khuôn mặt chỉ thông qua cái nhìn thẳng vào mặt. Bà cũng thích đọc sách hay xem phim như bao người khác, nhưng không thể theo dõi xuyên suốt được một bộ phim, từ phim một tập đến phim nhiều tập theo cách thông thường, vì bà không thể phân biệt được khuôn mặt của từng diễn viên. Trong những lần tụ tập vui chơi ăn uống cùng bạn bè, đồng nghiệp, rõ ràng trước đó, bà Sellers có lên kế hoạch cùng, ấy vậy mà đến khi gặp nhau, bà lại xem họ như những người xa lạ. Đối với bà, họ có cùng một khuôn mặt như nhau. Dù rất dễ dàng nhắc lại tên người hay số điện thoại được cho, nhưng chỉ rõ họ là ai trong tập ảnh chụp nhiều người thì bà hoàn toàn bất lực. May mắn là khi đứng trên bục giảng, Sellers vẫn đảm nhiệm tốt vai trò của một giáo viên dạy tiếng Anh giỏi vì nhận dạng được từng học sinh dựa vào quần áo mặc, kiểu tóc, phù hiệu mà họ đeo.

Khi còn nhỏ, trong lần cùng mẹ đi sắm đồ ở một cửa hàng tạp hóa gần nhà, Sellers đã vô tình gây ra rắc rối. Sellers lạc mất mẹ. Cô bé vừa khóc vừa tìm mẹ. Nhưng trớ trêu thay, cô không thể nhớ khuôn mặt của người mẹ. Nhìn thấy người nào, Sellers cũng níu tay lại, hỏi rất thương cảm: “Mẹ có phải là mẹ của con không?”. Hầu hết mọi người đều ngạc nhiên, ú ớ trước câu hỏi của cô bé lên 10 tuổi này. Đến khi người quản lý của cửa hàng này – một người hàng xóm với gia đình nhà Heather – tìm được mẹ của Sellers. Mẹ đứng trước mặt, gọi con liên hồi, nhưng Sellers có phản ứng rất lạ. Cô bé đứng trơ, thái độ nghi ngờ, hỏi: “Mẹ đúng là mẹ của con chứ?”, Sellers không nhận ra mẹ của mình. Cả hai mẹ con ôm nhau khóc…

Không thể nhớ được khuôn mặt của bất cứ ai

Thời trung học, Sellers sống khép kín. Cô không biết xưng hô như thế nào cho đúng, vì không thể nhớ được người này là ai? Người kia là ai? Sellers chỉ còn biết lủi thủi một mình, và trong đầu luôn văng vẳng câu hỏi: “Bạn là ai?”. Không ai hiểu được nỗi khổ tâm của cô.

Đến khi lập gia đình, rất nhiều lần, Sellers không thể nhận ra ai là chồng mình. Mỗi ngày khi đi làm về, cô lại giật mình vì trong nhà có một người đàn ông lạ mặt và chỉ thở phào “thì ra đó là chồng mình” sau khi quan sát những thứ anh đang mặc. Tới trường đón 2 cậu con trai mà Sellers cũng không nhớ được mặt chúng. Bí cách, cô đành la lớn gọi con trước cổng trường trước sự ngạc nhiên của mọi người.

Thậm chí, ngay cả bản thân mình, Sellers cũng không nhận ra: “Tôi đã ở trong một thang máy, xung quanh có gương với mấy người. Khi một người phụ nữ di chuyển và ra khỏi thang máy. Phải mất một lúc sau, tôi mới nhận ra người phụ nữ đó chính là tôi” – Sellers buồn bã kể.

Năm 36 tuổi, Sellers tình cờ nhìn thấy cụm từ “mù khuôn mặt” trong một cuốn sách giáo khoa về tâm lý học. Đến khi này, Sellers mới nhận biết được những gì đáng sợ đã và đang xảy ra với mình. “Đối với tôi, tất cả những khuôn mặt đều là mặt người, với những điểm rất chung. Chúng không có gì đặc sắc để phân biệt. Mỗi khuôn mặt có thể nhỏ hay lớn, già hay trẻ, nhưng tất cả đều giống nhau”.

Khiếm khuyết gây nhiều trở ngại

Oliver Sacks – nhà thần kinh học có tiếng – là một ca Prosopagnosia điển hình. Ông không thể nhận diện được bất kỳ ai, kể cả gương mặt mình trong gương. Oliver Sacks chủ yếu nhận biết người thân và bạn bè dựa vào giọng nói của họ. Năm 1985, ông xuất bản cuốn “The man who mistook his wife for a hat” (Người đàn ông nhầm mũ với vợ), giúp thế giới biết nhiều hơn về Prosopagnosia. Hàng loạt nghiên cứu bắt đầu diễn ra và tập trung chủ yếu vào việc lý giải chứng bệnh lạ lùng này.

Mới đây, trong công trình nghiên cứu đầu tiên về triệu chứng này đăng trên số tháng 7 của tập san The American Journal of Medical Genetics Part A, các nhà khoa học phát hiện ra, đây là một căn bệnh do bẩm sinh, hay một dạng rối loạn phát triển. Nghiên cứu cũng cho thấy, số người bị chứng mù mặt nhiều hơn ta tưởng. Trong số 689 sinh viên chọn ngẫu nhiên tại Munster, Đức để tham gia thí nghiệm, thì có đến 2,47% mắc phải bệnh này.

Khoa học đang vận dụng kỹ thuật chụp ảnh não để nghiên cứu về chứng mù mặt, để xem phần nào của não hoạt động mạnh nhất khi ta nhận diện người khác. Tiến sĩ Bradley Duchaine và Giáo sư tâm lý Đại học Harvard Ken Nakayama đã công bố công trình nghiên cứu về chứng mù mặt của họ trong số tháng 7 của tập san Current Opinion in Neurobiology. Họ cũng có trang web chuyên về vấn đề mới mẻ này (www.faceblind.org), để mời những ai nghi ngờ mình bị mắc chứng mù mặt có thể liên họ với họ.

Những người bị bệnh được gán cho cụm từ “bất cẩn, vô tâm”, “hậu đậu” quên tên người khi vừa được giới thiệu, hay không thể tìm ra đường đi đến một điểm cho trước. Để bù lại, những người bị chứng mù mặt có khả năng nhận biết rất tốt những biểu cảm của khuôn mặt, từ hạnh phúc đến buồn rầu, từ giận dữ đến bối rối. Họ có thể dò ra những thay đổi nhỏ nhất, xác định dễ dàng giới tính và sức hấp dẫn, thu hút của khuôn mặt. Nói tóm lại, họ nhận thức rất rõ về những gì hiển thị trên khuôn mặt người, nhưng lại không biết nó là của ai, tức là không gắn được tên tuổi vào khuôn mặt.

Hiện, Prosopagnosia không chỉ là một căn bệnh đang ngày càng trở nên phổ biến trên toàn thế giới, mà còn là một trong những trở ngại lớn đối với nhiều trường hợp điều tra và xét xử tội phạm, đặc biệt ở Mỹ. Trường hợp của Jenny – nhân chứng trong một vụ giết người mới đây tại Mỹ – là một ví dụ điển hình cho chứng bệnh Prosopagnosia. Jenny đã trực tiếp chứng kiến một người đàn ông giết hại một người phụ nữ và đã tường thuật lại chính xác những gì đã diễn ra. Tuy nhiên, vấn đề duy nhất khiến cho cuộc tìm kiếm thủ phạm thất bại là việc nhân chứng duy nhất này đột ngột mất khả năng nhận diện người. Jenny miêu tả hai lần cùng một người mà cô đã nhìn thấy với những đặc điểm hoàn toàn khác nhau.

Cũng giống như Jenny, một nhân chứng khác của một phiên tòa xét xử kẻ giết người ở Mỹ đã bị mắc chứng Prosopagnosia sau một tai nạn và bị chấn thương não bộ. Kể từ đó trở đi, bệnh nhân này thường xuyên nhận nhầm người lạ thành bạn của mình mà không hề hay biết.

  • Theo ANTĐ
Facebook Comments

Hội chứng “Không thể tưởng tượng” – Aphantasia Syndrome

0
Không thể tưởng tượng

Một hội chứng kỳ lạ khiến con người không thể tưởng tượng được bất kỳ hình ảnh nào trong não bộ, kể cả khuôn mặt người thân.

Với hầu hết tất cả chúng ta, việc hình dung lại một hình ảnh bất kỳ trong quá khứ dường như chẳng có gì đặc biệt, nhất là với những hình ảnh đã quá quen thuộc như khuôn mặt người thân, bạn bè…

Tuy nhiên, có một kiểu người trên thế giới không thể làm được chuyện đó. Họ là những người mắc phải hội chứng mang tên aphantasia – hay được dân gian biết đến với cái tên: không thể tưởng tượng.

Cứ 50 người lại có 1 mắc phải hội chứng không thể tưởng tượng mà chẳng hề hay biết - Ảnh 1.

Hội chứng aphantasia sẽ khiến 1 người không thể tưởng tượng ra bất kỳ hình ảnh nào trong tâm trí. Khi có người bảo họ phải “tưởng tượng ra hình ảnh”, họ đơn giản sẽ mô tả nó một cách rất ẩn dụ. Nhưng quan trọng là cả người nói lẫn người nghe đều không biết sự “tưởng tượng” ấy diễn ra như thế nào, nên ngay cả bản thân người bệnh cũng không biết mình mắc phải hội chứng này.

Tuy vậy, một nghiên cứu gần đây liên quan đến aphantasia đã được thực hiện, qua đó cho thấy hội chứng này hóa ra phổ biến hơn chúng ta tưởng rất nhiều, với tỉ lệ 1:50 (dù mới chỉ là ước đoán). Có nghĩa, ít nhất 140 triệu người đang không hề có trí tưởng tượng.

Trên thực tế, việc xác định một người có bị aphantasia hay không là rất khó. A chẳng thể biết B đang tưởng tượng thấy cái gì, và ngược lại. Khi phải mô tả lại những gì đang tưởng tượng trong đầu, sẽ chẳng có phương pháp đo lường trực quan nào áp dụng được cả.

Cứ 50 người lại có 1 mắc phải hội chứng không thể tưởng tượng mà chẳng hề hay biết - Ảnh 2.

Vậy nên để kiểm tra, các chuyên gia đã thực hiện thí nghiệm mang tên “hai mắt đối đầu” – binocular rivalry. Ứng viên sẽ được đeo một cặp kính 3D. Một bên mắt sẽ có vòng tròn xanh và các đường gạch ngang, mắt còn lại là vòng tròn đỏ với đường sọc dọc.

Sự khác biệt giữa 2 bên mắt kính sẽ tạo ra hiệu ứng thị giác “hai mắt đối đầu”, khi não bộ liên tục cảm nhận hình ảnh thay đổi. Trong thí nghiệm này, hình ảnh thay đổi là màu sắc của vòng tròn.

Tuy nhiên, trước khi đeo kính, các ứng viên được yêu cầu phải tưởng tượng ra một vòng tròn có màu xanh hoặc đỏ.

Điều này có ý nghĩa gì? Nếu như họ thực sự tưởng tượng được hình ảnh, thì khi đeo kính lên, màu sắc họ tưởng tượng ra sẽ chiếm ưu thế hơn. Còn những người mắc aphantasia, hiệu ứng thị giác nói trên sẽ không bị ảnh hưởng.

Và kết quả thì như đã nêu: tỉ lệ 1:50 người đã mắc phải aphantasia mà chẳng hề hay biết.

Nguyên nhân gây ra hội chứng?

Điều này hiện vẫn chưa được làm rõ, dù khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết. Một trong số những giả định được nhiều người ủng hộ nhất là vì khi tưởng tượng ra điều gì đó, chúng ta phải tạo ra một ký ức mới.

Cụ thể, khi muốn gợi lại hình ảnh, não bộ phải mô phỏng lại những hoạt động như khi hình thành ký ức ấy. Nhưng nếu như trong quá trình này có một đường dẫn bị lỗi, hoặc não bộ không thể mô phỏng lại được, thì rõ ràng chúng ta sẽ không thể gợi lại bất kỳ hình ảnh nào.

Cứ 50 người lại có 1 mắc phải hội chứng không thể tưởng tượng mà chẳng hề hay biết - Ảnh 3.

Aphantasia dù không gây nguy hiểm, nhưng cũng đem lại một số bất tiện, đặc biệt là những người mắc bệnh sẽ khó lòng làm những việc liên quan đến óc sáng tạo như thiết kế, đồ hoạ…

Hiện tại, các chuyên gia đang tiếp tục tìm hiểu nhiều hơn về căn bệnh này, nhằm đưa ra phương pháp giúp người mắc phải hội chứng tìm lại được trí tưởng tượng vốn có của con người.

  • Theo Trí thức
  • Nguồn tham khảo: The Conversion, IFL Science, Weird psychological
Facebook Comments

Đối mặt với sự phản bội

0
Đối mặt với sự phản bội
Đối mặt với sự phản bội

Ngay tại lúc này, bạn đang cảm thấy quá đau lòng và không thể chịu đựng nổi…

Hiển nhiên là thế. Người mà bạn tin tưởng và nghĩ rằng đó là người tốt, có những hành động đi ngược lại với tình yêu. Hành động của họ cho thấy họ là người vô tâm, không thể tin tưởng và cố ý gây đau đớn cho bạn. Chúng ta đều biết như vậy, bởi có thể ta đã từng trong hoàn cảnh ấy. Nó đau như bị ai cào xé.

Tuy nhiên, có một điều ta có thể khẳng định ngay.

Khi đối mặt với tình huống nào đó, ta sẽ luôn có sự phán đoán của riêng mình.

Sự nhận định đó chỉ thể hiện một hướng tiếp cận bởi trên lý thuyết ta có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau cho cùng một sự việc. Chắc hẳn sẽ có nhiều cách đánh giá khác nhau đối với sự việc diễn ra.

Dù bạn không thể thay đổi sự phản bội đó nhưng bạn vẫn có thể lựa chọn một cách nhìn nhận sao cho ít tổn hại đến tinh thần và thể xác của mình.

Nếu bạn nghĩ rằng họ phản bội bạn chỉ nhằm gây tổn thương cho bạn, lối suy nghĩ đó rất đỗi tự nhiên. Tuy nhiên, sự thật không giống như vậy, nó có thể cùng tốt hơn và tệ hơn như thế.

Lạ thay, tệ hơn bởi vì có thể bạn không phải nhân tố chính thúc đẩy họ làm điều đó. Và tốt hơn cũng vì cùng lý do ấy. Từ quan điểm của bạn, sự việc có vẻ chỉ xoay quanh bạn và có ý định gây tổn thương cho bạn, nhưng sâu trong nó hẳn còn có các lý do khác, thương xót hơn nhiều.

Có thể nó liên quan đến thời thơ ấu của họ hay chịu sự thúc ép từ ai đó, hoặc liên quan đến nỗi lo âu về quyền lực hoặc nỗi sợ về công việc. Khi họ xin lỗi bạn và nói rằng họ không cố ý làm tổn thương bạn, chắc hẳn đó là sự thật.

Con người chúng ta đều có nhiều phiên bản khác nhau: Tôi-tự-tin, Tôi-thông-thái, Tôi-tốt-bụng. Và cơn ác mộng này đánh thẳng vào phiên bản kinh dị dai dẳng mà ta luôn cố gắng tránh né: Tôi-ghê-tởm. Sự phản bội tác động vào nỗi sợ sâu thẳm nhất của ta, rằng: ta vô dụng; những điều như thế này chỉ xảy ra với những người như chúng ta; ta sẽ không bao giờ gặp những điều tốt đẹp.

Hãy cố gắng phân cách những cảm xúc lâu dài này với khủng hoảng hiện tại. Sự phản bội này không liên quan gì đến Tôi-ghê-gớm cả. Hai người kia không lên giường cùng nhau để cho bạn thấy bạn tệ hại đến thế nào đâu. Bạn vẫn luôn là chính bạn: đứng đắn, đoan trang, có giá trị riêng và là một thành viên của xã hội.

Chúng ta sống trong một nền văn hoá gắn kết chặt chẽ giữa tình yêu và tình dục. Chúng ta được dạy rằng người bạn yêu chính là người bạn muốn quan hệ và ngược lại. Đó dường như là sự thật muôn thuở đối với bạn. Nhưng, với một số người, trong một số thời điểm, tình yêu và tình dục lại khác biệt và được phân biệt rạch ròi. Hẳn điều này không bao biện được gì cho việc họ phản bội bạn, nhưng nó có thể là tia sáng dẫn lối cho ta.

Một cặp đôi tốt không nên lãng phí cơ hội mà sự việc này đem đến. Có thể sự phản bội chính là một mật thư gửi đến bạn về các khúc mắc trong mối quan hệ này mà hai bạn không thể chia sẻ cùng nhau. Hãy thử nghĩ rằng bị phản bội không quá ghê rợn, mà nó liên quan đến những điều không vui mà bạn chưa bao giờ biết cách bày tỏ.

Hãy thử nghĩ sự phản bội như một thông điệp, dành cho cả hai bạn, về nhu cầu cần cố gắng cứu vãn mối quan hệ này. Hãy cho phép mình tò mò, chứ đừng mãi chỉ tức giận không. Thông thường, sự phản bội là dấu hiệu mệt mỏi của người kia, và cũng là một phương cách rất ấu trĩ để họ đưa mối quan hệ đi đúng hướng.

Khi thật lòng yêu thương ai đó, bạn không chỉ yêu vì những điều tuyệt vời, đáng ngưỡng mộ của họ. Yêu còn có nghĩa là cảm thông và tha thứ về những khuyết điểm, thiếu sót và những sai lầm. Hơn bao giờ hết, đây chính là lúc cho kiểu tình yêu như thế.

Facebook Comments

Cái tôi là gì? Nó có nên bị loại bỏ không?

0

Nếu bạn đã từng tìm hiểu lĩnh vực tâm linh trừu tượng, bạn sẽ có thể phát hiện ra rằng cái tôi thường được nhắc tới với sự coi thường.

Nhiều người tin rằng cái tôi cần phải loại bỏ, bị cấm đoán hay thậm chí bị triệt tiêu. Nhưng liệu chúng ta có cần loại bỏ cái tôi không? Vậy, cái tôi là gì? Và hơn nữa là, bạn có thể học được gì từ chính cái tôi của bạn?

CÁI TÔI LÀ GÌ?

Nói một cách cơ bản, cái tôi là sự nhận diện của bạn, hay là chính cái người mà bạn nghĩ bạn là.

Cái tôi của bạn thường được dựng lên bởi một cái tên, một tính cách và một câu chuyện. Bên trong câu chuyện cá nhân này là một tập hợp những ký ức, niềm tin, dấu ấn và cảm giác về việc bạn là ai, bạn đến từ đâu, bạn giỏi hay dở cái gì, bạn đã trải qua những gì, và vô số những điều tương tự như thế.

CÁI TÔI VÀ TÍNH HAI MẶT

Cái tôi là một tấm màn che giữa những gì bạn nghĩ bạn là và những gì bạn thực sự là. Bạn sống bên dưới sự ảo tưởng của tâm trí, hoàn toàn không ý thức được rằng bạn bị dẫn dắt bởi gánh nặng cực kỳ to lớn của những câu truyện – Isira Sananda

Cái tôi của bạn được tạo thành và vẫn còn đang được nắm giữ bởi bạn tin rằng bản thân tách biệt so với người khác và cả cuộc sống. Nói cách khác, cái tôi của bạn tin rằng bạn chắc chắn ở đây, và người khác chắc chắn ở đó. Bạn có một thân thể, cuộc sống và cá tính khác biệt rõ rệt so với người khác. Do đó, đối với cái tôi, bạn không giống người khác. Bạn khác biệt. Hay đó là những điều mà suy nghĩ của bạn vẫn hay nói dối bạn.

Kết quả từ việc được dạy bảo (hoặc được uốn nắn) để bạn tin bản thân là một cá thể tách biệt, dẫn đến bạn trải qua nỗi sợ và đau khổ. Thay vì đơn giản trải nghiệm cuộc sống trong sự thuần khiết và nguyên vẹn của nó, bạn lọc cuộc sống qua tâm trí của mình. Bạn được dạy để sống cuộc sống trong tính hai mặt. Về bản chất, tính hai mặt là trạng thái của sự chia cắt – nó là tính đối nghịch của thực tại. Nó là sản phẩm của tâm trí. Về cơ bản, đối với tính hai mặt, chúng ta phân hóa và chia cắt cuộc sống.

Ví dụ về tính hai mặt bao gồm việc lọc cuộc sống qua thấu kính của “đúng/sai”, “giỏi/tệ”, “tốt/xấu”, “trong sạch/tội lỗi”, “yêu/ghét” v.v.  Với việc sống trong tính hai mặt khiến  ta tạo ra lượng đau khổ không được kể đến đối với bản thân vì lâu rồi chúng ta không mở lòng với cuộc sống. Thay vào đó, cuộc sống của ta trở thành trung tâm xung quanh sự phán xét, kết tội và sợ hãi. Điều đó khiến ta làm xa lánh và phá hủy những người mà chúng ta thấy “dở”, “sai” và “tội lỗi” để bảo vệ quan điểm của chúng ta về những cái được cho là “đúng” và “trong sạch.”

Chúng ta càng bị quy phạm vào tính hai mặt sâu bao nhiêu thì càng trải qua những vấn đề như lòng căm ghét, sự giận dữ, thất vọng, hoang tưởng, lo âu và lầm đường bấy nhiêu. Chúng ta không chỉ chia rẽ bản thân khỏi người khác, mà còn ngăn cách với chính mình. Bất cứ điều gì bên trong được cho là xấu ác/tệ/sai trái/tội lỗi chúng ta giữ kín, kìm nén và phủ nhận sự hiện diện của nó. Dẫn đến năng lượng bị kìm hãm, mặt tối của chúng ta lớn lên thể hiện nhiều hơn trong những mối quan hệ và lan rộng ra thế giới.

Thế giới vật chất của chúng ta là một biểu hiện của sự đau khổ tích tụ bên trong. Cuộc sống của chúng ta là một biểu hiện của sự trống rỗng bên trong. Nhìn một cách đơn giản vào bảo lực, tội phạm, nghèo đói, tham lam, mù quáng, suy yếu tinh thần và sự suy thoái môi trường chỉ ra cho sự lạc lối sâu sắc của chúng ta ngay cuộc đua. Chúng ta bị lạc lối vì mất đi tính liên kết với sự thật và việc chúng ta là ai.

Ý NGHĨ ĐIÊN RỒ CỦA VIỆC CHO RẰNG CÁI TÔI LÀ ÁC QUỶ

Trong việc làm sáng tỏ điều này, chúng ta dễ dàng có thể bắt đầu tin rằng cái tôi là xấu. Trong thực tế, một vài thầy tâm linh giao giảng rằng cái tôi cần “bị loại bỏ”. Nhưng có người cho biết: Đây chỉ là một trò đùa khác của tâm trí! Tôi đã nghe quá nhiều người trong cộng đồng tâm linh chỉ trích cái tôi và nói về nó với sự phẫn nộ. Tuy nhiên, việc tin rằng cái tôi là “xấu” và cần “bị loại bỏ” chỉ là sự phản ảnh của một tâm trí bị tắc nghẽn trong tính hai mặt.

Cái tôi không “tốt”, cũng chẳng “xấu”, nó đơn giản là nó mà thôi. Chúng ta cần nhận ra rằng cái tôi đơn giản chỉ là một công cụ. Cái tôi tồn tại như một cơ chế sinh học tồn tại. Cái tôi cũng tồn tại như một phương tiện cho sự phát triển tâm linh của chúng ta; giúp chúng ta trở nên ý thức về chính sức mạnh, tình yêu và tính duy nhất của bản thân mình. Cái tôi là một cánh cửa dẫn đến con đường mà chúng ta có thể trở lại BẢN CHẤT THỰC SỰ của mình.

TẠI SAO CÁI TÔI KHÔNG PHẢI LÀ BẠN

Bạn có lẽ đã nghe câu này này trước đây: “Cái tôi là một sự ảo tưởng.” Điều này có nghĩa là gì?

Cái tôi là một ảo tưởng, và do đó nó không thực sự là bạn vì nó luôn thay đổi. Nói cách khác, bất cứ cái gì ở bên trong bạn lệ thuộc vào sự ra đời, thay đổi và sự suy tàn có thực sự là bạn không?

Hãy thử một thí nghiệm sau. Viết xuống một mẩu giấy bạn nghĩ bạn là ai. Bạn có thể dừng đọc lúc này và quay trở lại đọc tiếp bài viết này sau khi bạn kết thúc.

Hãy nghỉ một lát. Và thực sự làm điều kia. Hãy làm bài thí nghiệm ngay lúc này.

Bây giờ bạn đã làm bài thí nghiệm, hãy đọc lại bài viết của bạn. Có khả năng, bạn sẽ viết một thứ gì đó giống như “Tôi là Jane Doe. Tôi là vợ, mẹ, và bạn. Tôi là một lính cái hỏa, một kẻ mơ mộng và một người tìm kiếm tâm linh. Tôi 38 tuổi, có 3 đứa con và là một họa sĩ lành nghề.”

Hãy xem lại mô tả của bạn đi? Đây là câu chuyện của chính cá nhân bạn, nền tảng cuộc sống của bạn, về những gì bạn nghĩ bạn là.

Cái tôi là một sự ảo tưởng vì nó đơn giản là: một câu chuyện – một câu chuyện được tạo ra trong tâm trí.

Hãy sử dụng một vài câu hỏi tự vấn và áp dụng những câu hỏi này vào câu nói của bạn:

  • Bạn có thể là một cái tên không nếu nó có thể dễ dàng bị thay đổi? Bạn có thể được sinh ra trong một gia đình khác với một cái tên khác.
  • Bạn có thể là một thân thể không nếu nó luôn bị lão hóa, thay đổi, phân hủy và bị thay thế với những phần khác. Những mô máu đỏ của bạn sống được 4 tháng, máu trắng của bạn sống được hơn một năm, da của bạn sống được khoảng 2 – 3 tuần… tất cả các mô bên trong bạn luôn chết đi và tái tạo lại mới. Bạn có thể thực sự là cơ thể bạn không hay trông như thế nào khác?
  • Bạn có thể là một nét tính cách không khi nó luôn thất thường và biến đổi? Hãy nghĩ lại tính cách của bạn 5 năm trước đây, rồi 15 năm trước đây. Nó có giống tính  cách mà bạn có bây giờ không?
  • Bạn có thể là cảm xúc của bạn không khi chúng luôn đến và đi, suy sụp và trôi chảy? Không chỉ thế, bạn có thực sự kiểm soát được cảm xúc của mình không? Chúng đến từ đâu? Bạn có thực sự kiểm soát được chúng không?
  • Bạn có thể là suy nghĩ của bạn không khi chúng luôn thay đổi? Không chỉ vậy, bạn có thực sự kiểm soát được những suy nghĩ của mình không? Chúng đến từ đâu? Bạn có thực sự kiểm soát được chúng không?
  • Bạn có thể là niềm tin của bạn không khi những gì bạn tin 10 – 30 năm trước đây không còn là những điều mà bạn tin hiện tại? Niềm tin của bạn luôn bị ảnh hưởng bởi điều kiện, sự trưởng thành và xã hội… làm cách nào mà chúng có thể là bạn hay của bạn cơ chứ?
  • Bạn có thể là những kí ức của bạn không khi chúng đến, đi và thậm chí thay đổi? Bạn có biết có những thứ như kí ức sai lầm không? Khi nhớ về quá khứ, tâm trí có một trí giác tinh tế và đầy sắc màu bị lệ thuộc vào sự thay đổi và sự thay thế. Kí ức của bạn có thể là bạn được không?

Như chúng ta có thể thấy, mọi thứ mà chúng ta tin chắc không thực sự là chúng ta. Vậy chúng ta thực sự là gì? Còn điều gì phía trước?

SỰ HIỆN DIỆN ĐÓ LÀ GÌ?

Có điều gì chứng kiến mọi thứ xảy đến trong cuộc đời bạn chưa? Điều gì chưa bao giờ thay đổi? Đâu là trọng tâm chính của cái người mà chúng ta là?

Khám phá câu hỏi này một chút và bạn sẽ nhận ra rằng nó là:

Ý thức.

Ý thức là kết cấu của mọi thứ. Trong thực tế, thậm chí khoa học đã chỉ ra rằng trọng tâm của mọi sự vật là năng lượng rung chuyển ở những tần số khác nhau. Trong trải nghiệm loài người, sự hiện diện, ý thức hay tinh thần biểu hiện chính nó như năng lượng hình thành mọi hình thức.

Thật khó để thực sự biểu đạt trải nghiệm này, vì sự giới hạn của ngôn ngữ. Cách dễ nhất để trải nghiệm sự hiện hữu đó là bạn, và luôn là bạn, qua thiền định. Thiền hay làm tĩnh lặng tâm trí giúp bạn trở nên ý thức một cách cơ bản về những suy nghĩ và không gian ẩn trong những suy nghĩ đó. Không gian đó là bạn.

Một cách thông thường khác mà loài người từ thời điểm sơ khai đã từng trải nghiệm sự thật của sự tồn tại là qua thực vật và pha trà,  chẳng hạn như Cây Thức Thần (Ayahuasca), nấm Psilocybin và xương rồng ma túy (Peyote). Mặc dù nó hữu ích để lấy những loại thảo dược như thế, nhưng nó không bắt buộc. Những loại thực vật này chỉ đơn giản là con đường dẫn vào sự trải nghiệm vũ trụ và tâm linh mà chúng ta ở đó.

What is the ego? image

 LÀM THẾ NÀO ĐỂ GỠ RỐI CHÍNH BẠN KHỎI MẠNG ẢO TƯỞNG

Sẽ mất một khoảng thời gian để bạn thực sự nhận ra rằng bạn không phải là cái tôi của bạn, và đôi khi sẽ khó hơn rất nhiều để hợp nhất khám phá này trên một mức độ sâu sắc. Sẽ rất khó để bạn chấp nhận rằng mọi thứ bạn tin bạn là đều sai. Trong thực tế, chẳng có gì ngạc nhiên nếu bạn trải qua nhiều sự bất bình trong bài viết này. Đây là điều bình thường.

Công việc của cái tôi là để bảo vệ chính nó và để bạn tin rằng bạn tách biệt với mọi người và cả cuộc sống. Khi trải nghiệm trạng thái vô ngã đó chính là khai phóng, có thể xuất hiện khiến bạn lần đầu vô cùng thất vọng và nản chí. Không có “tôi” và “bạn” liệu có có còn điều gì đáng khao khát hơn chăng? Đây là một câu hỏi thường gặp.

Để hiểu được điều này, bạn phải trải nghiệm sự tự ý thức. Nếu không trải nghiệm sự thật mà bạn là, sự tìm kiếm tâm linh trở thành vận dụng hoàn toàn bằng trí óc và thiên về việc phá hoại nỗi sợ. Tuy nhiên, khi bạn trải qua dù chỉ một khoảnh khắc đơn thuần của sự ý thức, bạn sẽ khám phá ra bản thân trong trạng thái tự do, nguyên vẹn, bình yên, lòng trắc ẩn, sự bao dung và yêu thương nhiều nhất có thể. Trong thực tế, ý thức tự nó là hiện thân của tình yêu, sự bình yên và sự tự do. Bạn là sự hiện thân này. Bạn là sự thật mà bạn đang tìm kiếm.

Gỡ rối bản thân từ những ảo tưởng là một quá trình đòi hỏi sự kiên trì, tự kỷ luật, và tận hiến. Quá trình này không phải dành cho những người theo phong trào tâm linh, nó dành cho những người tìm kiếm tâm linh thực sự.

Dưới đây là một vài sự thực hành tâm linh hữu ích mà sẽ giúp bạn kết nối lại với sự thật về con người bạn là ai:

  1. Đọc những câu hỏi vấn ngã (self-inquiry) bên trên một cách thường xuyên. Hỏi bản thân bạn “Điều này (điều mà tôi nghĩ là tôi) có thực sự là tôi hay không?” Mặc cho những cảm xúc, suy nghĩ, cá tính và thân thể đã được kinh qua, chúng không thực sự là bạn vì chúng lệ thuộc vào sinh-tử và sự thay đổi.
  2. Thực hành thiền kim cương để giải phóng bất kì năng lượng suy nhược nào bên trong bạn.Hãy làm điều này trước thiền truyền thống để thực hành nó dễ dàng hơn.
  3. Thiền mỗi ngày. Cố gắng 15 phút đầu, sau đó chuyển thành 30 phút. Nhớ là: mục đích của việc thiền định không phải là đến bất cứ đâu hay đạt được bất cứ điều gì. Nó chỉ đơn giản là thực hành ngồi với bất cứ cái gì xảy đến với bạn.
  4. Hãy thường xuyên khẳng định bản thân bạn, “Tôi là ý thức” xuyên suốt mỗi ngày. Cảm nhận rằng sự thật ẩn trong xương bạn và trọng tâm với mỗi hơi thở.
  5. Khám phá cách mà cái tôi ảnh hưởng lên cuộc sống của bạn với sự thấu cảm. Bạn có thể làm điều đó bằng cách đọc những bài viết giống như thế này. Tôi biết bạn sẽ nhận thấy vài thứ cuốn hút.
  6. Đọc vào những trải nghiệm của quá trình thức tỉnh tâm linh để có hướng dẫn sâu hơn.
  7. Thực hành chánh niệm trên nền tảng mỗi ngày. Chánh niệm là một sự thực hành thiết yếu sẽ giúp tạo nền móng cho bạn cho thời điểm hiện tại.

Con đường tâm linh là một con đường đòi hỏi sự dũng cảm, sự trung thực và sự sẵn lòng để thoát ra khỏi những gì bạn không thuộc về. Cái tôi là gì? Cái tôi là một người thầy, một người thầy mà bạn sẽ mang theo mỗi ngày. Khi được nhìn vào ánh sáng này, cái tôi là người thầy quyền năng và cố chấp nhất chúng ta phải thức tỉnh để hướng đến sự thật luôn ở đó, và sẽ luôn ở đó.

Nguồn: Lonerwolf

Người dịch: Vy Hoshi

Facebook Comments

LÒNG TỰ TRẮC ẨN

0
  • Định nghĩa

Lòng tự trắc ẩn (self-compassion) bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ năm 2003, được đánh dấu bằng bài viết khoa học được công bố bởi Kristin D. Neff về định nghĩa và thang đo lòng tự trắc ẩn.

Kristin D. Neff (2003b) cho rằng: “Lòng tự trắc ẩn đơn giản là lòng trắc ẩn hướng vào nội tâm bản thân ta, liên hệ với chính ta như là đối tượng của sự quan tâm và chăm sóc khi đối mặt với các trải nghiệm đau khổ” (Neff, 2003b, tr.224).

Neff chỉ ra rõ tự trắc ẩn không phải là ích kỉ, tự cho mình là trung tâm, ông nhấn mạnh rằng: Lòng tự trắc ẩn không phải là trở nên ích kỉ hay coi mình là trung tâm, cũng không phải là sự ưu tiên các nhu cầu của bản thân mình hơn những người khác. Thay vào đó, lòng trắc ẩn là sự thấu hiểu rằng tất cả mọi người, bao gồm cả bản thân mình, đều xứng đáng được nhận lòng trắc ẩn. Lòng tự trắc ẩn bao gồm việc trở nên cởi mở và thương cảm với đau khổ của chính mình, trải nghiệm cảm xúc của quan tâm và nhân ái với chính mình, đem lại sự thấu hiểu, thái độ trung lập với sự thiếu thốn và thất bại của bản thân và nhận ra kinh nghiệm của mình là một phần của trải nghiệm của toàn nhân loại (Neff, 2003b, tr.224).

Neff cũng cho rằng lòng tự trắc ẩn là khá khác biệt với lòng tự thương hại. Ông chỉ ra, khi một người cảm thấy thương hại người khác, họ thường cảm thấy riêng biệt và ngắt kết nối với người khác, trong khi ở lòng trắc ẩn, họ cảm thấy kết nối với người khác và biết rằng sự đau khổ đó là một phần của trải nghiệm của nhân loại. Tương tự, khi cảm thấy tự thương hại, ta sẽ nhấn chìm trong vấn đề của chính mình và quên mất rằng người khác cũng có vấn đề tương tự. Họ lờ đi mối quan hệ liên cá nhân với người khác, thay vì cảm thấy họ chỉ là một người trên thế giới đang đau khổ. Lòng tự thương hại nhấn mạnh cảm giác mình là trung tâm, tách biệt với người khác và thổi phồng quy mô của nỗi đau khổ cá nhân. Lòng tự trắc ẩn cho phép một người thấy sự liên kết giữa trải nghiệm, đau khổ của mình với người khác mà không mất đi sự kết nối hay bóp méo sự thật (Neff 2003a, tr.88).

Neff phủ nhận quan điểm cho rằng nếu có tự trắc ẩn quá nhiều sẽ dẫn tới sự tiêu cực, ông cho rằng đó chưa phải sự tự trắc ẩn chân thật, thậm chí là sự thấp của lòng tự trắc ẩn. Khi có tự trắc ẩn, con người không phê bình quá gay gắt với những thất bại của bản thân, không cho rằng thất bại sẽ dẫn tới bị xem thường mà cần khuyến khích hành động cho sức khỏe và chức năng tối ưu của mình với lòng nhân ái và kiên nhẫn (Neff 2003a, tr.87).

  • Các nghiên cứu trên thế giới

Sau khi được công bố lần đầu năm 2003, đến nay đã có hàng trăm nghiên cứu trên thế giới về lòng tự trắc ẩn được công bố. Đặt biệt là các nghiên cứu về mối tương quan giữa lòng tự trắc ẩn với các yếu tố tâm lý khác.

Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và hạnh phúc, lòng tự trọng, sự lo âu, trầm cảm được quan tâm nghiên cứu. Công trình khoa học “Self-compassion, self-esteem, and well-being. Social and Personality Compass” đã chỉ ra rằng: Lòng tự trắc ẩn  có thể mang lại những lợi ích sức khoẻ tinh thần tương tự như lòng tự trọng, nhưng với ít nhược điểm hơn như ít đánh giá hơn và ổn định hơn. Trong khi lòng tự trọng đòi hỏi phải đánh giá chính mình và thường liên quan đến sự cần thiết phải là đặc biệt và trên trung bình, thì tự trắc ẩn không đòi hỏi tự đánh giá hoặc so sánh với người khác mà thay vào đó, là nhìn nhận một cách nhân ái, kết nối với chính mình ngay cả trong những trường hợp thất bại, nhận thức không đầy đủ, và không hoàn hảo (Neff, 2011, tr.1). Nghiên cứu “Men’s Self-Compassion and Self-Esteem: The Moderating Roles of Shame and Masculine Norm Adherence. Psychology Of Men; Masculinity” chỉ ra lòng tự trắc ẩn và lòng tự trọng có tương quan thuận, khá chặt với nhau (r=0,51, p<0,01) (Reilly, E. D., Rochlen, A. B.; Awad, G. H., 2013, tr.3). Một nghiên cứu khác mang tên “The Relationships Between Psychological Flexibility, Self-Compassion, and Emotional Well-Being” cho thấy: lòng tự trắc ẩn có tương quan thuận và chặt với lòng tự trọng (r= 0,67, p<0,01), tương quan nghịch với mức đô trầm cảm (r=-0,552, p<0,01), tương quan nghịch với sự lo âu (r=-0,353, p<0,01) (Marshall, E. J.; Brockman, R. N. , 2016, tr.67).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa lòng tự trắc ẩn với sự đánh giá hình ảnh cơ thể và hành vi ăn được công bố. Trong một nghiên cứu khác mang tên “Self-compassion moderates the relationship between body mass index and both eating disorder pathology and body image flexibility” của Kelly và cs ( 2014), 153 nữ sinh viên đã thực hiện một loạt các bảng khảo sát về lòng tự trắc ẩn, cân nặng, lòng tự trọng, hình ảnh cơ thể, thói quen ăn uống và cân nặng – chiều cao thực tế của mình. Nghiên cứu chỉ ra:”Phụ nữ có thể trải nghiệm một hình ảnh cơ thể cùng những thói quen ăn uống tích cực hơn nếu họ đương đầu với những thất vọng và phiền muộn với sự tử tế cùng việc nhận ra rằng những khó khăn đó là một phần thông thường của cuộc sống. Cách chúng ta đối xử với bản thân trong những thời khắc khó khăn, những điều xem ra chẳng liên hệ gì tới ăn uống hay cơ thể, lại có vẻ có ảnh hưởng đến cách thức chúng ta cảm nhận về cơ thể mình cùng cách chúng ta sử dụng thức ăn. Bất kể cân nặng cùa mình như thế nào, những phụ nữ có lòng tự trắc ẩn cao thường có hình ảnh về cơ thể tích cực hơn, đồng thời họ cũng ít lo lắng hơn về cân nặng, hình thể hay việc ăn uống của mình. Khả năng chấp nhận và thông hiểu bản thân không hẳn giúp chúng ta nhìn cơ thể mình theo cách tích cực hơn, mà thực ra giúp ta nhận ra những khiếm khuyết cơ thể của bản thân và chấp nhận chúng.” (Kelly et al., 2014, tr. 446).

  • Các thành tố của lòng tự trắc ẩn

Khái niệm lòng tự trắc ẩn được đông đảo các nhà nghiên cứu đồng ý với  Kristin D. Neff khi đưa ra 3 thành tố của lòng tự trắc ẩn. Và trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hệ thống lý thuyết của Neff về 3 thành tố của lòng tự trắc ẩn bao gồm:

Nhân ái với bản thân (self-kindness): Neff chỉ ra rằng ở văn hóa phương Tây, người ta nhấn mạnh đặc biệt đến việc đối xử nhân ái với người khác, nhưng lại không chú ý nhiều đến nhân ái với chính mình. Khi chúng ta phạm sai lầm hay thất bại, chúng ta thường rất khắt khe, tự chỉ trích với suy nghĩ “Bạn quá ngu dốt và lười biếng, tôi xấu hổ về bạn”. Chúng ta không thường nói với bản thân những điều như ta nói với người bạn thân của mình, thậm chí như với một người lạ khi họ sai lầm. Hầu hết mọi người báo cáo rằng họ đối xử nhân ái với người khác hơn chính mình (Neff, 2003b) và dù khi xảy ra các vấn đề vượt ngoài tầm kiểm soát như mất việc hay tai nạn, chúng ta thường không cảm thông với chính mình như cách mà chúng ta làm thế với một người bạn trong tình huống tương tự. Với lòng nhân ái với bản thân, chúng ta khuyến khích và thấu hiểu với chính mình. Những đoạn độc thoại nội tâm của chúng ta sẽ là nhân từ và khích lệ hơn là khắt khe và hạ thấp. Điều đó có nghĩa là thay vì liên tục làm kiệt sức bản thân vì cho rằng mình không đủ tốt, chúng ta hiểu biết một cách nhân ái rằng chúng ta đang làm tốt nhất những gì ta có thể. Cũng vậy, khi tình thế bên ngoài đầy thách thức và quá khó khăn, chúng ta trấn an và khích lệ chính mình. Chúng ta cảm thông nỗi đau của chính ta một cách êm ái và mong muốn làm dịu đi những đau khổ đang xuất hiện.

Tính tương đồng nhân loại (common humanity): Tính tương đồng nhân loại trong lòng tự trắc ẩn bao gồm việc nhận ra rằng mọi người đều có thể thất bại, sai lầm và phạm lỗi. Chúng ta không làm cái chúng ta muốn và cảm thấy thất vọng về chính mình hoặc hoàn cảnh bên ngoài. Đây là một phần trong kinh nghiệm nhân loại (ai cũng phải trải qua), một sự thật cơ bản trong cuộc sống của tất cả mọi người. Chúng ta không đơn độc trong sự không hoàn hảo. Đúng hơn, sự không hoàn hảo của chúng ta khiến chúng ta là một phần của loài người. Thường thì chúng ta cảm thấy riêng biệt và tách rời người khác khi tính đến sự vật lộn trong cuộc sống, những thất bại ta trải qua và cảm thấy rằng chỉ mình mình mới gặp những điều khó khăn này. Chúng ta nghĩ chúng ta không bình thường, rằng mọi chuyện đang đi sai hướng, chúng ta quên mất rằng những thất bại của chúng ta thực sự là điều bình thường. Góc nhìn hạn hẹp này khiến ta cảm thấy cô đơn và riêng biệt, khiến đau khổ của chúng ta tệ hơn nữa. (Neff, 2011). Với lòng tự trắc ẩn, chúng ta mang quan điểm trắc ẩn người khác vào bên trong mình, cho phép chúng mở rộng hơn trong chính ta và trong cuộc sống của ta. Bằng việc nhớ chia sẻ kinh nghiệm nhân loại, chúng ta cảm thấy ít tách biệt hơn khi chúng ta đau khổ. Với điều này lòng tự trắc ẩn trở nên khác biệt với sự tự thương hại, tự thương hại là thái độ chỉ mình tôi và từng người trở nên tách biệt trong vấn đề của họ mà quên mất rằng người khác cũng có những vấn đề tương tự. Lòng tự trắc ẩn giúp nhận ra rằng tất cả chúng ta đều có đau khổ và như vậy khuyến khích sự kết nối quan niệm rằng đau khổ này cũng có ở người khác.

– Chánh niệm (Mindfulness): là thành tố của lòng tự trắc ẩn bao gồm việc lưu tâm đến nhận thức về những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực của chúng ta, chúng ta tiếp cận chúng với sự cân bằng và bình thản. Khi chúng ta có chánh niệm, chúng ta có kinh nghiệm để đón nhận khoảnh khắc hiện tại mà không phán xét, tránh xa hay kìm nén (Bishop & cs. 2004). Chánh niệm là thành tố cần thiết của lòng tự trắc ẩn. Bởi vì, chúng ta trở nên ý chí hơn để đón nhận và trải qua các suy nghĩ và cảm xúc đau đớn khi gắn chặt chúng ta với lòng trắc ẩn. Trong khi nó có vẻ như nỗi đau của chúng ta được che đậy,  nhiều người không hiểu chúng ta đau như thế nào, đặc biệt nỗi đau đó được bắt nguồn từ sự tự chỉ trích của chính chúng ta. Hoặc khi đối mặt với thách thức trong cuộc sống, chúng ta thường không dừng lại để xem nó thực sự khó khăn thế nào trong lúc này. Chánh niệm về các suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực có nghĩa là chúng ta không trở nên quá đồng nhất với chính mình. Hơn là việc tự chấp nhận tiêu cực con người thật của ta, chúng ta có thể nhận ra những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đang giúp cho chính ta giảm bớt niềm tin mù quáng vào sự không hoàn hảo, vô giá trị của ta. (Kristin D. Neff, Katie A. Dahm, 2015, tr. 123-125).

Tác giả: Peter Tran

Facebook Comments

Câu chuyện cuộc sống của bạn nói lên điều gì?

0

Trong cuốn “The White Album” của mình, Joan Didion nổi tiếng đã viết “Chúng ta tự kể cho mình những câu chuyện để sống”.

Bởi nhiều cách khác nhau, Didion đã đúng: Câu chuyện dường như không phải nhu cầu tồn tại cơ bản, nhưng trí não của chúng ta kể chuyện tự nhiên như một cách để tạo ra các cấu trúc và ý nghĩa cho cuộc sống của ta.

Theo nghiên cứu tâm lý học kể chuyện (narrative psychology), một lĩnh vực nghiên cứu đang nổi lên đã xem xét các câu chuyện của chúng ta đã định hình cuộc sống và tính cách của chúng ta như thế nào? những câu chuyện mà ta kể với bản thân mình đóng một vai trò lớn để xác định chúng ta là ai.

Sự nhận thức khởi xướng khi bộ não nhận được sức mạnh, sức mạnh đơn giản mà tôi đã thêm vào, trong quá trình kể chuyện”, lời giải thích của nhà thần kinh học Antonio Damasio.

Tất cả chúng ta đều có một câu chuyện đặc biệt quan trọng mà chúng ta tự nói với bản thân mình “câu chuyện cuộc đời””của chúng ta, giúp chúng ta tổ chức những kinh nghiệm và cho chúng  ta cảm giác về bản thân, thậm chí còn chỉ ra những hành vi của trung ta trong trường hợp nào đó.

Chúng ta liên tục cập nhật, sửa đổi và thêm thắt vào những câu chuyện này khi chúng ta có thêm những trải nghiệm mới.

Dan McAdams, giáo sư tâm lý học của đại học Northwestern, tác giả của cuốn “The Redemptive Self: Stories Americans Live By” (Tạm dịch là Tự cứu chuộc: Những câu chuyện của người Mỹ sống động), đã trả lời phỏng vấn của The Huffington Post rằng “Những câu chuyện mà chúng ta nói với bản thân mình về cuộc sống của mình không chỉ định hình tính cách ta–nó chính là nhân cách của chúng ta””

Theo McAdams – người đã nghiên cứu những “câu chuyện cuộc đời” gần 30 năm thì Nhân cách xuất hiện dưới nhiều tầng lớp.

  • Lớp đầu tiên là đặc điểm cơ bản của chúng ta, được tạo nên bởi các đặc điểm do di truyền học và môi trường của chúng ta.
  • Lớp thứ hai chứa những giá trị và các mục tiêu.
  • Lớp thứ ba là câu chuyện chúng ta kể về cuộc sống của mình, một loại ““kịch bản nhận thức””giúp chúng ta có thể hiểu được làm thế nào chúng ta đang sống như vậy, và chúng ta nghĩ cuộc sống của chúng ta đi đến đâu, cho chúng ta những cảm nhận ý nghĩa và mục đích.

“Đây không chỉ là những thứ riêng biệt có ảnh hưởng đến việc chúng ta là ai”, “ Chúng là, ở một mức độ nào đó, Chúng là chính chúng ta và hòa vào trong nhân cách của chúng ta như một tính năng tường thuật cá nhân”, McAdams nói.

Bằng cách hiểu rõ cách chúng ta tạo nên những câu chuyện này và cấu trúc của chúng, chúng ta có thể thay đổi những câu chuyện của riêng mình và viết lại kịch bản để cải thiện cuộc sống.

THOMAS BARWICK QUA GETTY IMAGES

Dưới đây là 6 nguyên tắc mà tâm lý học kể chuyện giúp bạn hiểu rõ hơn về “câu chuyện cuộc đời” của bạn.

1.       Câu chuyện của bạn không ngừng phát triển, trở nên càng tích cực hơn trong cuộc sống.

McAdams cho rằng, Trẻ con khoảng 5-6 tuổi có thể kể các câu chuyện và hiểu được cách để tường thuật, nhưng nó chỉ đến khi trẻ trưởng thành.
Khi đó chúng ta bắt đầu kể những câu truyện một cách lớn hơn, kể lại những chi tiết tích hợp có ý nghĩa hơn.
Khi chúng ta đến tuổi thanh thiếu niên, chúng ta bắt đầu có những câu hỏi lớn hơn như: Tôi là ai? Tôi sẽ đi đâu? Tôi đến từ đâu? Những câu hỏi này đóng vai trò quan trong trong động lực phát triển của một câu chuyện cuộc đời tích hợp.
Câu chuyện này sẽ tăng dần sự phức tạp lên – bạn mang đến nhiều đặc điểm, chủ đề, và những bộ phim truyền hình nhiều hơn – khi bạn bước lên tuổi 20, 30.
Theo McAdams, cho đến lứa tuổi 40, chúng ta biết rằng các câu chuyện của mình trở nên đơn giản và cô đọng hơn.

McAdams cho biết, “Có một số nghiên cứu cho rằng, sự phức tạp của các tự truyện đã tăng lên cho lứa tuổi 40 của một người, cũng như lứa tuổi 50”. Sau đó bạn có xu hướng đơn giản hóa một chút. Nếu bạn nhìn vào những người ở tuổi trung lưu và sau đó, câu chuyện của họ có xu hướng nhẹ nhàng hơn, mềm mỏng hơn và hạnh phúc hơn…Đó là sự cải tiến theo thời gian.

Khi bạn còn trẻ, sẽ chẳng có khoảng trống nào trong câu chuyện cho những bộ phim drama, xung đột và tiêu cực. Nhưng sau khi mọi người đến lứa tuổi trung lưu và cuộc sống sau này (thường phù hợp với mức độ ngày càng tăng của hạnh phúc và thành đạt), những phần của câu chuyện dần trở thành bức phông nền. Theo xu hướng chung của tuổi tác, câu chuyện ngày càng trở nên sai lệch theo thời gian.

McAdams nói: “Khi mọi người lớn lên, họ có vẻ ít đi sự sai lệch cho những câu chuyện,”. “Họ sẽ tạo dựng lại quá khứ và quên đi hoặc hạ thấp những điều tệ hại đi một chút”.

2.       Cảm xúc hiện tại của bạn sẽ tô màu toàn bộ sự kể chuyện của bạn.

Tâm lý học nói với chúng ta rằng sự nhận thức của chúng ta chẳng phải khách quan cho lắm: Chúng ta nhìn thấy những gì chúng ta muốn thấy, và nhận thức của chúng ta thường tô màu bằng các suy nghĩ và cảm xúc.

Khi nó trở thành những câu chuyện cuộc đời, trạng thái cảm xúc của chúng ta hiện tại và hoàn cảnh sống của chúng ta có một tác động rất lớn đến cách chúng ta giải thích quá khứ và tưởng tượng tương lai – thậm chí dựa trên từng thời điểm, theo McAdams.
Đi qua các giai đoạn trầm cảm hoặc tổn thương có thể thay đổi toàn bộ câu chuyện của bạn trong khoảng thời gian đó. Ví dụ, trong lúc hồi phục sau quá trình ly hôn hoặc chia tay, bạn có thể nhìn nhận quá khứ một cách ảm đạm hơn và có động lực để giải thích về cách bạn có quan điểm này.
“Nó giống như lịch sử. Câu chuyện cuộc đời của bạn, ít nhất với sự tôn trọng quá khứ, không phải là sự cố chấp”, McAdams nói, “Nó luôn đi qua một đoạn chuyển đổi. Cũng giống như cách mà các nhà sử học xem xét lại quá khứ -–họ nhìn thấy Chiến tranh Thế giới thứ nhất theo cách thức hiện tại và có thể trong 30 năm sau họ sẽ nhìn nó theo một cách thức khác – bạn sẽ nhìn thấy tuổi thơ của mình ở ngay thời giểm này và muộn hơn theo một cách khác bởi những gì mà bạn đã trải qua tại thời điểm đó”.

Nhưng đừng lo lắng quá nhiều nếu như bạn đang trải qua một phần thô sơ: Mặc dầu theo khuynh hướng này, những câu chuyện kể của chúng ta có khuynh hướng vượt ra ngoài và quay trở lại trạng thái cân bằng theo thời gian.

3.       Chúng ta hiểu được câu chuyện cuộc đời của mình trong cấu trúc của một cuốn tiểu thuyết.

“Con người có khả năng tham gia vào bộ nhớ theo các giai đoạn – họ có thể nhớ lại các kịch bản từ quá khứ mà có sự bắt đầu, ở giữa và kết thúc; những câu chuyện nhỏ”. “Bạn có thể tưởng tượng tương lai như những câu chuyện nhỏ chưa từng xảy ra”, theo McAdams.

Chất lượng những chương này là một phần tự nhiên của bộ nhớ và suy nghĩ trong tương lai, và bộ não dường như tạo ra sự tường thuật để đưa ra những cấu trúc cho những suy nghĩ về quá khứ và tương lai.

Chúng ta nghĩ về cuộc sống của mình theo trình tự thời gian, phân chia trải nghiệm của chúng ta thành “các chương” dựa trên những sự kiện chính trong đời sống – học hành, vị trí địa lý, công việc, các sự kiện gia đình lớn và nhiều điều khác nữa.
Nghiên cứu khoa học nhận thức đã củng cố ý tưởng cho rằng mọi người sắp xếp đời sống của mình một cách tự nhiện dựa trên những loại đơn vị rộng rãi này.

4.       Những câu chuyện của người thành công chứa đựng những chủ đề về sự cứu chuộc.

Khi McAdams và sinh viên của ông xem xét các câu chuyện cuộc đời của một nhóm người trong độ tuổi 30-40, những người xem như họ được sinh trưởng ở mức độ cao –tương ứng với sự chăm sóc, sự phong phú và được cam kết để tạo nên sự khác biệt tích cực trên thế giới. Ông và các sinh viên tìm thấy rằng, những người này đã mang đến những đề tài về sự cứu chuộc vào những chuyện kể của họ một lần nữa.

McAdams cho biết: “Việc cứu chuộc (Redemption) được xem như khi điều gì đó trong câu chuyện trở nên thực sự tệ”, “Họ sẽ nói về một sự kiện tiêu cực” – một sai lầm, hoặc một số gián đoạn hay mất mát -–và từ sau đó họ sẽ chuyển sang những kết quả tích cực.

Lấy ví dụ, một người có thể xem việc sa thải hoặc ly hôn như là một chất xúc tác cho cơ hội tốt hơn sau này trong đường đời.
Các khuôn mẫu cơ bản của một kịch bản được sinh ra luôn là một trong những đau khổ đã trải qua và có được kết quả tốt hơn so với bạn trải qua trước đây.
“Chúng ta đều biết làm thế nào để làm được điều đó và nhiều người chúng ta đã làm như vậy, nhưng những người sinh trưởng với mức cao làm điều đó rất nhiều. Họ có gấp đôi lần số các chủ đề cứu chuộc trong những câu chuyện cuộc đời của họ so với chúng ta.

5.       Câu chuyện của bạn được định hướng bởi các chuẩn mực xã hội và văn hóa.

Trong số những người trưởng thành với mức cao generativity* kể những câu chuyện cứu chuộc như một cách khá phổ quát, McAdams cũng lưu ý rằng những câu chuyện này đặc biệt vững chắc trong xã hội Mỹ. Trong các xã hội khác nhau, có thể có những câu chuyện khác nhau tương quan với sự generativity.

* Generativiy có thể hiểu là truyền đạt lại những gì bạn đã học được để giúp thế hệ kế tiếp đạt được mục tiêu và ước mơ của họ.

Câu chuyện cuộc đời của chúng ta không được tạo ra từ một thế giới chân không: Chúng ta tiếp thu những gợi ý và những câu chuyện văn hóa (như những câu chuyện cổ tích của người Mỹ tới những câu chuyện cổ tích giàu có) và chúng tạo ra sự sâu sắc trong những câu chuyện mà chúng ta kể.

Các chủ đề văn hóa và thần thoại được sử dụng và coi như của riêng, và chúng ta tìm thấy các cách thức để gán ghép chúng vào trong những câu chuyện riêng của chúng ta.

“Có những ý nghĩa văn hóa đối với các câu chuyện về sự cứu chuộc này…Bạn nghe được rằng con người đã trở thành những người kể chuyện – điều đó là sự thật, não chúng ta được thiết lập như vậy. Nhưng chúng được phát triển trong các văn hóa… và những câu chuyện kể của chúng ta thường được định hình bởi văn hóa”, McAdams nói.

6.       Bạn có thể kiểm soát các câu chuyện của riêng bạn.

Mặc dù những câu chuyện này phần lớn được xác định bởi văn hóa và tính cá nhân, chúng ta có một mức độ kiểm soát đối với những gì chúng ta nói về bản thân chúng ta trong câu chuyện đời sống. Ngay cả khi chúng ta lấy những chủ đề từ cuộc sống xung quanh, chúng ta là những người đưa chúng lại với nhau và chúng ta chúng ta có cảm giác ý thức làm như vậy.
McAdams nói: “Ở cấp độ nhận thức có ý thức, chúng ta có thể làm những điều để câu chuyện của chúng ta trở nên tốt hơn”. “Cố gắng làm nổi bật những điều tích cực.…khi bạn đang ở giữa sự hỗn loạn và rối rắm, thật khó để nhìn lại và nói rằng “Có lẽ tôi sẽ đi đâu đó với những điều tích cực này”.
Tất nhiên, nhìn vào mặt tích cực cũng cần được cân bằng với quan điểm thực tế về các sự kiện trong cuộc sống của cuộc đời mỗi người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng “những người lạc quan thực tế” – người lạc quan có quan điểm trung thực về các sự kiện – có thể hạnh phúc hơn và thành công hơn những người bi quan.

Việc đặt những câu hỏi lớn về chúng ta là ai và mục đích của chúng ta là gì trong cuộc sống (đó là những câu hỏi mà chúng ta thường hỏi khi là thanh thiếu niên và sinh viên đại học) có thể là những điều quan trọng để định hình và định danh sự kể chuyện và dành thời gian để hỏi chúng cũng giúp chúng ta kiểm soát những câu chuyện cuộc đời của riêng chúng ta.

“Tôi nghĩ rằng con người cần phải tự vấn bản thân và tôn trọng những câu chuyện cuộc đời của họ: Tôi đang cố gắng làm gì ở đây? Lợi ích lâu dài là gì và làm cách nào tôi có thể giúp cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn mà tôi trải qua?” theo McAdams.

Facebook Comments
- Advertisement -