Trang chủ Hành Vi Khi phẩm hạnh bị tha hóa

Khi phẩm hạnh bị tha hóa

610
0
Chia sẻ

Mỗi một đức tính đều tồn tại một thói xấu ở bên trong nó.

Sau khi bị John Schrank – một người thợ cắt tóc luôn ủng hộ vấn đề giới hạn nhiệm kỳ – bắn vào ngực, Roosevelt Theodore vẫn tiếp tục bài diễn thuyết tranh cử tổng thống của mình với viên đạn nằm trong lồng ngực. Ông khẳng định rằng “Cần nhiều hơn thế để hạ gục Bull Mouse” và cứ như thế, ông tiếp tục bài nói trong suốt một tiếng đồng hồ trước khi đồng ý tiếp nhận điều trị. Tự tin, kiên cường và can đảm là những đức tính làm nên một người lãnh đạo mạnh mẽ, hoàn thành tốt chức trách của mình dù đó là tổng thống, giám đốc hay người anh hùng chiến tranh dân tộc. Tuy nhiên, những đức tính tốt đẹp ấy cũng dễ dàng trở thành những hành vi chống đối xã hội. Nếu không tự ý thức được nỗi sợ và nhược điểm của bản thân, chúng ta sẽ dần trở thành những kẻ liều lĩnh, bốc đồng, vô tâm, làm ngơ trước nỗi sợ và nhược điểm của người khác.

Nhà tâm lý học Scott Lilienfeld – người phát triển Psychopathic Personality Inventory và giáo sư tại trường đại học Emory – nói rằng “vài nét tính cách của con người cũng giống như con dao hai lưỡi”. Ông đã báo cáo trong Tạp chí Nhân cách và Tâm lí xã hội (Journal of Personality and Social Psychology) rằng “Ví dụ như Fearless dominance, phẩm chất này có thể giúp ích cho sự lãnh đạo khôn khéo khi đối mặt với khủng hoảng hay những tên tội phạm liều lĩnh”. Trong bài đánh giá tính cách của 42 vị tổng thống Hoa Kì, ông xếp Teddy Roosevelt là người “fearless dominance” cao nhất.

Đức tính nào cũng ẩn chứa một thói xấu bên trong nó. Theo quan điểm mới nhất, nhân cách con người không còn được xem xét dưới hệ nhị phân (một là tốt, hai là xấu) mà được nhìn nhận như một thể liên tục, dưới nhiều góc độ khác nhau. Mỗi nét tính cách không chỉ được xếp vào từng phổ mà còn tiềm ẩn khả năng tự biến đổi và huỷ diệt chính nó. Ví dụ như, gọn gàng, ngăn nắp có thể trở thành ám ảnh. Táo bạo, mạo hiểm sẽ trở thành liều lĩnh, bất chấp hiểm nguy. Khiêm tốt dễ hoá thành tự ti và tự tin lại biến thành kiêu ngạo. Tương tự như cẩn trọng trở thành bất an, thuyết phục trở thành độc đoán và thân thiện lại trở thành nịnh bợ.

Bảy tội lỗi chết người (theo kinh thánh) có thể cũng đã bắt đầu là những điều tốt đẹp như khát vọng, sự thư giãn, sự công nhận thành quả của người khác, sự giận giữ chính đáng, bản năng sinh dục lành mạnh và niềm yêu thích các món ăn ngon. Tất cả đều là vấn đề về mức độ.

Trong cuốn sách Fear Your Strengths vừa được xuất bản gần đây, hai tác giả chính là Robert Kaiser và Robert Kaplan chia sẻ rằng trong suốt 50 năm tư vấn kinh doanh và đào tạo các nhà quản lý doanh nghiệp, họ đã thật sự nhìn thấy các nét tính cách tốt đẹp bị thay đổi và biến chất. “Chúng tôi từng chứng kiến có người tự tin đến mức ngạo mạn, xấc xược và có người khiêm nhường đến mức tự hạ thấp chính mình. Rồi cả những ý tưởng bị lãng quên, dần trở thành những giấc mơ vô định hình và những mục tiêu, trọng điểm chỉ khiến tầm nhìn trở nên hạn hẹp. Hãy đưa ra một thế mạnh của bạn và chúng tôi sẽ cho bạn thấy rằng việc lạm dụng thế mạnh đó sẽ ảnh hưởng xấu đến công việc và có thể khiến sự nghiệp của bạn đi chệch hướng.”

Nhìn chung, bản chất con người, nguyên tắc xã hội và văn hoá công sở đều góp phần hướng chúng ta đến các phẩm chất tốt đẹp. Nhưng những phẩm chất đó không thật sự tốt như cách chúng biểu hiện. Chúng ẩn giấu các nét tính cách xấu bên trong và có khả năng biến đổi theo chiều hướng xấu hơn. Trong xã hội với sự thay đổi chỉ diễn ra trong tíc tắc thì tất cả những hiểu biết, tri thức chúng ta từng tiếp thụ, bao gồm cả định nghĩa về phẩm chất tốt đẹp, nên thường xuyên được xem xét lại. Chúng ta không thể dùng một nguyên tắc hay một định nghĩa chung cho mọi sự vật, sự việc trong thế giới không ngừng biến đổi như thế này. Quan trọng hơn hết, thay đổi cần đi đôi với thích nghi – khả năng vượt ra nguyên trạng, hiểu sâu hơn những gì được học và thấy cả những điều chưa từng thấy.

Jake Breeden, thành viên của Duke Corporate Education và tác giả của Tipping Sacred Cows: Kick the Bad Work Habits that Masquerade as Virtues, nói rằng ngay cả khi nhìn trên bề mặt đó là một trong những phẩm chất tốt đẹp nhất của cá nhân hay tập thể nhưng những sức mạnh sâu thẩm bên trong nó lại có khả năng công phá, huỷ diệt.

“Mỗi một đức tính đều tồn tại một thói xấu ở bên trong nó”.

Hãy xem thử ví dụ dưới đây. Có một người đại tá lực lượng không quân nọ, trong suốt nhiều thập kỷ, ông luôn bắt tay chào đón từng lứa quân sĩ mới. Sau khi ông về hưu, người đại tá kế nhiệm đã thay đổi truyền thống này. Ông chào đón mọi người bằng một đoạn video và giao nhiệm vụ kia cho các trung sĩ của mình. Sự cải cách này khiến người đại tá mới kia có vẻ lạnh lùng và xa cách hơn so với người tiền nhiệm. Khi được hỏi về đoạn video chào mừng kia, ông trả lời rằng: “Đó là tôi đang cho các trung sĩ của mình một chút niềm vui, giúp họ toả sáng. Tôi đã có đủ phần của mình rồi.”

Người đại tá mới ý thức rất rõ về hệ quả của những quyết định mình đưa ra. Đó không phải là vì ông ấy lười biếng hay không tôn trọng mọi người. Bằng cách nâng tầm vị thế của các trung sĩ, ông đã xoá bỏ được lối làm việc chỉ phụ thuộc vào một cá nhân cụ thể. Breeden chỉ ra rằng: “Người đại tá tiền nhiệm hoàn toàn không nhận thức được hậu quả của việc làm của mình, điều mà, theo ông, là phẩm chất tốt đẹp của mình”.

Nếu cứ tiếp tục giữ mãi các quan niệm về tiêu chí tạo nên một “người cha/mẹ tốt”, “người nhân viên trung thành”, “người lãnh đạo biết cách truyền cảm hứng”, “nơi làm việc hiệu quả” hay “người vợ/chồng tình cảm”, đôi lúc bạn có thể làm thấp đi giá trị của mình hoặc của những người xung quanh. Thông thường, xã hội hay nhìn nhận tích cực về các giá trị sau: sự tận tâm, tiêu chuẩn cao, sự chuẩn bị chu đáo; tuy nhiên, các giá trị này đều chứa đựng những mặt tiêu cực.

Khi tận tâm quá mức – nghĩa là bạn can thiệp vào từng công việc, từng quyết định – bạn sẽ dễ dàng đi theo lối quản lý vặt vãnh, tiểu tiết (micromanagement). Điều này không những khiến bạn kiệt sức mà còn làm nảy sinh bất mãn từ mọi người xung quanh, dù bạn là phó giám đốc hay là một người mẹ.

Khi bạn đặt ra yêu cầu quá cao, đòi hỏi sự xuất sắc toàn diện từ mọi người, bạn có thể đã dập tắt tinh thần sáng tạo, chấp nhận rủi ro của họ; đồng thời, bạn khiến họ không định hướng được những công việc trọng yếu cần được ưu tiên. Không phải việc gì cũng cần thực hiện một cách hoàn hảo; một vài việc chỉ cần đạt mức hoàn thiện là đủ rồi. Bên cạnh đó, khi bạn chuẩn bị quá kĩ lưỡng, đặc biệt là khi bạn tự mình làm việc đó và không tiếp nhận ý kiến phản hồi, kết quả cuối cùng có thể bị trì hoãn hoặc không thực sự được cải thiện. Breeden cho rằng con người rất dễ bị cuốn theo cái kịch bản đã được họ dày công chuẩn bị mà đánh mất đi sự linh động của mình.

Chúng tôi không yêu cầu bạn ngay lập tức từ bỏ các phẩm chất tốt đẹp hoặc những giá trị mà bạn hằng tin tưởng. Breeden nói rằng: “Những đức tính bạn đang nắm giữ tồn tại có thể là vì những lý do cá nhân sâu xa nào đó”. “Mục tiêu bạn cần đạt được là sống thật với bản thân mình; đồng thời, phòng tránh các khả năng khiến những niềm tin tiềm ẩn và hành vi bản năng của bạn phát triển theo chiều hướng tiêu cực.” Ngay cả những nét duyên dáng của bạn cũng có thể bị lạm dụng, sử dụng sai thời điểm hoặc đi quá giới hạn.

Làm thế nào để nhận biết sự phai mòn của một nét tính cách? Tự nhận thức là yếu tố duy nhất giúp ổn định các giá trị cốt lõi của con người.

Lập một danh sách cá nhân có thể giúp bạn nhận biết tính cách nào đang bị huỷ hoại và tính cách nào có lợi cho cuộc sống của bạn. Đồng thời, nó cũng cho bạn biết khi nào và điều gì có thể giúp bạn quay đầu hoặc khiến bạn đau khổ hơn cũng như phá hoại công việc và tình cảm của bạn.

Và, không bao giờ được cho rằng nét tính cách giúp bạn trong quá khứ sẽ tiếp tục giúp đỡ bạn trong tương lai.

Xuất sắc hay Cầu toàn?

Phấn đấu, nỗ lực với mong muốn đạt được kết quả tốt nhất giúp chúng ta gặt hái những thành quả như: thành tích học tập ưu tú, sự công nhận và khen thưởng, niềm say mê trong công việc. Nhưng khi sự mong đợi vượt quá giới hạn – nghĩa là bạn đòi hỏi sự hoàn mỹ trên mọi phương diện, bạn dần trở nên cứng nhắc, thiếu linh động và cầu toàn. Người theo chủ nghĩa hoàn hảo nhất mực theo đuổi những tiêu chuẩn tối ưu. Họ mong muốn mọi thứ đều trở nên tốt đẹp nhất, vì thế, họ thường không thể xác định được đâu là việc quan trọng cần được ưu tiên.

Nhà tâm lý học Simon Sherry và các đồng nghiệp tại trường Đại học Dalhousie ở Canada thực hiện nghiên cứu kiểm tra mức độ cầu toàn, sự tận tâm và hiệu suất học thuật ở các giáo sư chuyên ngành tâm lý học trong trường. Họ phát hiện rằng sự tận tâm tác động tích cực đến tổng số lượng ấn phẩm phát hành; trong khi đó, sự cầu toàn lại có ảnh hưởng tiêu cực vì nó kiềm hãm hiệu suất làm việc. Bên cạnh đó, các giáo sư theo chủ nghĩa hoàn hảo thường không mang lại dấu ấn mạnh mẽ trong bài viết của mình.

Gordon Flett là giáo sư ngành khoa học xã hội và nhân văn tại trường Đại học York ở Toronto và là người đồng phát minh Multidimensional Perfectionism Scale (tạm dịch: thang đo mức độ cầu toàn đa chiều). Ông nói rằng: “Ranh giới giữa việc nỗ lực để đạt kết quả xuất sắc và nỗ lực điên cuồng vì một kết quả hoàn hảo thật sự rất mỏng manh”. Sự cầu toàn không chỉ ảnh hưởng đến năng suất làm việc mà còn gây ra tác động tiêu cực đến sức khoẻ con người. Theo Flett, những người cầu toàn thường biểu hiện các bệnh kinh niên ở mức độ cao.

Có lẽ, phần tiêu cực nhất khi theo đuổi sự hoàn mỹ là việc đánh mất đi tinh thần sáng tạo, chấp nhận rủi ro và sự trải nghiệm. Clay Christensen, tại trường Kinh doanh Harvard (Havard Business School), biện luận rằng sự đổi mới phải đi kèm với đôi lần thất bại. Ông cho rằng các công ty phá sản thường là những công ty làm mọi thứ đều “đúng” – họ không nhận thấy được những điều mới, mang tính bức phá; thế nên họ tụt hậu và thất bại.

Sự xuất sắc – vừa là đủ. Trong quá trình tiến hoá, giống loài nào cũng “phân nhánh”, thay vì phát triển theo một tuyến để đạt đến sự hoàn mỹ.

Theo Breeden, từ trước đến nay, không ai lên tiếng chỉ trích việc theo đuổi sự hoàn mỹ nhưng giờ đây vấn đề này cần được thận trọng xem xét lại. Sự hoàn hảo khiến ta quên mất một sự thật là cuộc sống đôi khi rất hỗn độn. Nó cũng khiến ta không thể phân biệt đâu là điều quan trọng và đâu là không. Bên cạnh đó, chúng ta cần nhận định rõ ràng về chu trình hoàn hảo và kết quả hoàn hảo.

Việc tìm kiếm kết quả hoàn hảo cần thiết hơn so với tìm kiếm một quá trình hoàn hảo. Thông thường, sai lầm (và cách sửa chữa sai lầm) là những người thầy tốt nhất, dạy cho chúng ta nhiều bài học hữu ích. Tuy nhiên, khi theo đuổi sự hoàn hảo, chúng ta dần quên mất vai trò của yếu tố quan trọng kia, đặc biệt là trong thế giới không ngừng đổi mới như hiện nay. Đối với Christensen, “đổi mới bứt phá” (disruptive innovation) không chỉ áp dụng trong lĩnh vực kinh doanh – nơi mà các dự án khởi nghiệp dần dần chiếm lấn các tập đoàn hùng mạnh.

Thuyết này còn mang đến nhiều giá trị trong cuộc sống hằng ngày. Trong bài phát biểu gần đây, ông đề cập đến “nhu cầu đột phá trong việc nuôi dạy con cái”. Ông chia sẻ: “Tôi lo lắng rằng hiện nay đang có những bậc phụ huynh nuôi dạy nên những lớp trẻ không dám đương đầu giải quyết khó khăn.”

Ông cho rằng nếu trẻ em không bao giờ trải nghiệm thất bại thì “khi chúng trưởng thành và đối mặt với những vấn đề nan giải, chúng sẽ chọn thoái lui”. Ngược lại, khi đứa trẻ từng vượt qua khó khăn, trải nghiệm thất bại và kiên trì đi tiếp thì nó dần hình thành và phát triển lòng quyết tâm, sự kiên định. Thay vì từ bỏ sau một hoặc hai lần thử, đứa trẻ ấy sẽ tìm cách xoay sở và tìm kiếm giải pháp khả thi với những nguồn lực có sẵn. Không điều gì có thể đảm bảo sự thành công hay an toàn của những đứa trẻ nhưng chúng cần được phép khám phá khả năng xoay sở và độ bền bỉ của mình – đó là những phẩm chất có thể giúp bạn đánh bại ham muốn theo đuổi sự hoàn hảo.

Công bằng với mọi người là không công bằng với ai cả.

Ai ai cũng đều mong muốn cơ hội ngang nhau và được đối xử bình đẳng.

Hơn thua là bản năng của con người. Chúng ta mong muốn sự công bằng sâu đậm đến nỗi mà khi ta cảm thấy mình bị đối xử bất công thì bản năng có thể thúc ép ta hạ bệ người khác, đem họ xuống ngang tầm với ta. Breeden từng nói với con gái ông rằng ông sẽ không thể tham dự tiệc sinh nhật của con vì một cơ hội làm ăn hiếm có. Sau khi lau khô nước mắt, cô bé bảo không sao miễn là Breeden cũng không tham dự sinh nhật của em gái cô là được. Ông cho rằng, điều này cũng không mấy khác biệt so với trường hợp “nhân viên buồn phiền về kích thước phòng làm việc, tiền thưởng hay việc được xướng tên trong các cuộc họp hằng năm.” Chúng ta đều muốn được đối xử công bằng và muốn được làm việc cho những người, những nơi đối xử công bằng với người khác. Deborah Rupp, nhà tâm lý học tại trường Đại học Purdue, nghiên cứu về vấn đề công lý trong cơ quan, tổ chức. Đó là một quá trình tâm lý mà các nhân viên sẽ tự đánh giá sự bình đẳng ở nơi làm việc của mình. Ông nói rằng: “Các nhân viên dường như có một nỗi niềm chung về vấn đề công bằng, không chỉ lo riêng cho bản thân mình”. Rupp phát hiện rằng khi họ chứng kiến người chủ đối xử bất công với đồng nghiệp của mình, họ cũng nộp đơn khiếu nại, cảnh báo với những người xung quanh, tìm kiếm môi trường làm việc khác và có hành động chống đối công ty.

Một lần nữa, Breeden tiến hành phân biệt giữa quá trình và kết quả. Trong trường hợp này, sự công bằng của tiến trình quan trọng hơn sự công bằng về kết quả, ví dụ như việc mỗi đứa trẻ đều được đối xử như nhau hay việc trong một năm, mỗi nhân viên đều được tham dự ít nhất một hội nghị, được thưởng $1,000 và sở hữu ngăn làm việc rộng 10 ft (khoảng 3m). Trong khi đó, theo đuổi sự công bằng về kết quả dễ dàng tạo nên những đòi hỏi ganh đua. Ông cho rằng “Công việc của người lãnh đạo là đảm bảo cho mọi người, bao gồm cả chính mình, có cơ hội công bằng.” Những người nhân viên đặc biệt nên được đối xử theo cách đặc biệt, bởi đó là công bằng, còn những động cơ khác nên được dập tắt.

Cố gắng tạo nên sự công bằng về kết quả không chỉ thúc đẩy văn hoá ganh đua mà còn gây ra hàng loạt các nhầm lẫn về tâm lý bởi nó mặc định rằng mọi người đều trân trọng tất cả các phần thưởng như nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, có người muốn lương cao, có người lại muốn kéo dài thời gian nghỉ phép và cũng có người muốn lời khen và sự công nhận. Công bằng không chỉ đơn thuần là đối xử với các nhân viên hay trẻ em hay bạn bè “hoàn toàn giống nhau” mà chúng ta cần xem xét nhu cầu cụ thể của từng người và động lực cá nhân của họ. Cũng như trong gia đình, khi những đứa trẻ được đối xử theo mong muốn cá nhân của chúng, ai ai cũng đều cảm thấy mình đặc biệt và hạnh phúc.

Vâng, công bằng vẫn luôn là phẩm chất đáng ca ngợi. Chỉ cần bạn đảm bảo rằng sự đánh giá của mình là đúng đắn.

Về mục đích: Đam mê mà không Ám ảnh.

Những người đam mê cuồng nhiệt thật đáng kinh ngạc. Họ gắn kết mục đích và ý nghĩa vào cả đời sống và công việc; đôi khi, hai khía cạnh ấy hoà quyện vào nhau và trở thành “công việc của cuộc đời”. Tomas Chamorro-Premuzic, giáo sư ngành tâm lý kinh doanh tại trường Đại học – Cao đẳng London (University College London), báo cáo rằng “càng khó phân định ranh giới giữa cuộc sống và công việc bao nhiêu, bạn càng thành công trên cả hai lĩnh vực ấy bấy nhiêu.” Ông khuyến khích mọi người hãy tìm kiếm “sự hoà trộn giữa công việc và cuộc sống” cho chính mình.

Sự đam mê, tinh thần nhiệt huyết đem đến cho chúng ta cảm giác tốt đẹp. Nó thúc đẩy năng lượng, gia tăng thể lực và động lực của con người. Nghĩa là bạn thực sự quan tâm sâu sắc về một điều gì đó, nhiều đến mức bạn như hoàn toàn đắm chìm và hoà quyện vào nó, cũng như cách mà vác-xin được phát minh hay những bản giao hưởng ra đời.

Tuy nhiên, niềm đam mê cũng có thể lấn át, che đậy những điều quan trọng khác trong cuộc sống chúng ta; đưa xúc cảm lên trên lý trí và cuối cùng dẫn đến kiệt sức. Theo chiều hướng xấu nhất, đam mê có thể trở thành ám ảnh – nó sẽ chế ngự mọi thứ và chiếm lấy tâm trí con người đến mức báo động.

Robert Vallerand, giáo sư ngành tâm lý học tại trường Đại học Quebec, so sánh đối chiếu “đam mê lành mạnh” (ông hay gọi là “niềm đam mê hài hoà”) với “đam mê ám ảnh”. Vallerand nói rằng những cá nhân sống với niềm đam mê lành mạnh tham gia vào một hoạt động nào đó bởi vì họ mong muốn như thế. Ngược lại, những người đam mê ám ảnh tham gia một hoạt động là vì họ cảm thấy mình cần phải như thế; có thể nói, họ làm vậy là để chứng minh bản thân mình hoặc để trở thành người tiên phong chiếm lĩnh thị trường.

Trong khi niềm đam mê hài hoà tồn tại cùng các khía cạnh khác của cuộc sống con người, sự đam mê ám ảnh lại thúc ép, cưỡng bức con người vào chỗ hiểm nguy, thu hẹp tầm nhìn của ta và khiến ta làm ngơ nhu cầu của người khác (hoặc của chính bản thân ta). Các nhà nghiên cứu về vũ công chuyên nghiệp phát hiện rằng những người đam mê ám ảnh về nhảy thường trải qua nhiều chấn thương nhất. Họ thúc ép bản thân tập luyện quá đà, bỏ mặc sức khoẻ và mức độ cân bằng của cơ thể (và, nếu là giáo viên, họ có thể ảnh hưởng rất tiêu cực đến học trò của mình).

Breeden nói rằng: “Đam mê hài hoà không phải là hạ thấp tiêu chuẩn hay tự mình thoái lui”. Đó là tìm thấy một mức độ đam mê bền vững cho chính mình.

Cái giá của việc dễ tính.

Trong thuật ngữ của ngành Tâm lý học Nhân cách, người dễ chịu là người nhẹ dạ cả tin và hay giúp đỡ người khác. Họ có khuynh hướng khiêm nhường, giàu lòng vị tha, sẵn sàng thoả hiệp và có tinh thần phóng khoáng. Họ rất dễ cảm thấy vui vẻ và lạc quan, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ. Thông thường, họ không quá cuồng nhiệt và sôi nổi. Và đó cũng là một vấn đề, bởi mọi người xung quanh sẽ cảm thấy tốt hơn nếu họ thoải mái hơn nữa.

Mâu thuẫn là một phần không thể thiếu trong công việc và cuộc sống. Chúng ta rồi sẽ phải đối mặt với những bất đồng về ý kiến hay hành động, những quyết định cứng nhắc khó lòng ủng hộ hay những yêu sách lãnh thổ khó lòng đáp ứng. Quả quyết là một phẩm chất cần thiết; tuy nhiên, đó cũng là phẩm chất thiếu vắng ở những người quá dễ tính, khiến họ thường bị người khác lợi dụng lòng tin hoặc sự rộng lượng của mình. Nếu bạn không thể từ chối hay đưa ra các ý kiến phê bình mang tính chất xây dựng hoặc giữ vững lập trường chính mình, bạn không thể trở thành một người nhân viên, giám sát viên, cộng sự hay người phụ huynh tốt.

Làm một Mr Nice Guy (người quá hiền lành và tốt bụng) nơi công sở có thể làm giảm tiền lương và hạn chế khả năng thăng chức của bạn. Beth Livingston (Đại học Cornell), thẩm phán Timothy (Đại học Notre Dame) và Charlice Hurst (Đại học Western Ontario) phát hiện rằng sự dễ tính có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiền lương mà nhân viên nhận được. Trong một nghiên cứu xuất bản trong Tạp chí Nhân cách và Tâm lí xã hội (Journal of Personality and Social Psychology), họ đặt ra ba câu hỏi:

– Tốt bụng có ảnh hưởng sự thành công trong công việc của bạn?

– Tốt bụng có ảnh hưởng niềm vui làm việc của bạn?

– và Sự ảnh hưởng đó có khác nhau giữa nam và nữ?

Nhìn chung, họ phát hiện rằng nam giới kiếm nhiều tiền hơn nữ giới. Và, những người đàn ông được đánh giá cao về sự thân thiện kiếm ít tiền hơn (khoảng $10,000 một năm) so với những người đàn ông kém thân thiện. Trường hợp tương tự cũng xảy ra ở nữ giới, mặc dù số tiền chênh lệch không đáng kể. Tuy nhiên, những nhân viên tự đánh giá mình thân thiện và tốt bụng cảm thấy vui vẻ khi làm việc, hơn là những người tự cho rằng mình kém thân thiện.

Art Markman, giáo sư ngành tâm lý học và marketing của trường Đại học Texas (Austin) và là tác giả của cuốn sách “Smart Thinking: Three Essential Keys to Solve Problems, Innovate, and Get Things Done” (Lối tư duy của người thông minh), chỉ ra rằng “người dễ tính ít khi nỗ lực vì sự công nhận hay sự thăng chức”. “Khi làm việc, họ thường quên mình và giúp đỡ người khác hoặc làm vì lợi ích chung. Không may thay, những hành động ấy không giúp họ trở nên nổi bật khi xem xét về lương bổng.” Tuy nhiên, đổi lại, họ có một cuộc sống hạnh phúc hơn.

Tạm thời bỏ qua những định kiến, chúng ta thấy rằng các chàng “nice guy” thường thể hiện rất tốt trong tình yêu. Trong hai cuộc khảo sát ở nữ sinh viên, Geoffrey Urbaniak và Peter Kilman (Đại học South Carolina) phát hiện rằng sự tốt tính và vẻ ngoài thu hút là hai yếu tố ảnh hưởng tích cực đến lựa chọn của giới nữ và mức độ khả thi họ đánh giá về chàng trai đó như một đối tượng hẹn hò tiềm năng. Sự tốt bụng là điều quan trọng nhất khi phụ nữ cân nhắc về mối quan hệ lâu dài, nghiêm túc; trong khi đó, sự quyến rũ chiếm phần quan trọng hơn khi họ suy nghĩ về mối quan hệ hẹn hò bình thường.

Tuy nhiên, ngay khi mối quan hệ được xác lập, cảm xúc con người trở nên phức tạp hơn nhiều. Người tốt bụng, dễ tính và nhanh thoả hiệp thường cuốn hút lúc đầu nhưng có thể dẫn đến sự dựa dẫm và ỷ lại, tạo gánh nặng cho đối phương, đặc biệt là khi liên quan đến việc đưa ra quyết định. Bên cạnh đó, người dễ tính thường che giấu các cảm xúc tiêu cực, lâu ngày bùng nổ thành lối hành xử hung hăng, ngoại tình hoặc sự oán hận, và cuối cùng là chấm dứt mối quan hệ.

Bày tỏ cảm xúc chân thành và độc lập là những kỹ năng quan trọng trong công việc và tình cảm. Đôi khi, cả hai người dễ tính cũng có thể hoà hợp chung sống với nhau.

Hợp tác, với sự rõ ràng.

Một số người sinh ra đã là những người hợp tác giỏi. Họ hoan nghênh sự đóng góp từ người khác và hướng đến sự đồng thuận trên mọi phương diện. Đó cũng là phẩm chất quan trọng cần có ở những người giám sát và nhìn chung, nó giúp gia tăng sự đa dạng, thúc đẩy các mối quan hệ, tạo ra việc mua hàng với số lượng lớn và sự hợp tác từ mọi thành phần.

Những từ như “phá vỡ các rào cản” (breaking down silos*), “sức mạnh tổng hợp” (synergy) và “giao thoa” (cross-pollination**) đều xuất hiện dựa trên các giá trị của việc hợp tác và chúng dần dần thay đổi môi trường làm việc theo chiều hướng tốt hơn. Tình trạng cắt giảm nhân sự đã được giảm bớt. Những lối tư duy mới được đưa vào thực tế. Và năng lượng từ việc “hoà trộn” – hợp tác với nhiều người có các quan điểm và kĩ năng khác nhau nhằm đặt một mục đích chung – góp phần tạo thêm sinh khí nơi làm việc.

Tuy nhiên, cộng tác có thể dẫn đến tình trạng lan toả trách nhiệm. Các quyết định đưa ra cần sự thống nhất của tập thể nên mất nhiều thời gian hơn. Mọi người đều cảm thấy cần phải cân nhắc,suy xét ngay cả khi không có bất cứ điều gì để đóng góp. Và nếu xảy ra sai sót gì, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?

Thêm vào đó, Breeden nói rằng “Sự hợp tác tự động làm giảm hiệu suất làm việc vì chúng ta mãi cân nhắc việc đối xử tốt với mọi người.” Theo quan sát của ông, người hướng ngoại có khuynh hướng tham gia hợp tác vô bổ bởi họ nạp năng lượng từ những người xung quanh và họ thường muốn trò chuyện với ba mẹ. Ông cũng cho rằng “Người hướng ngoại có thể trở thành những “ma cà rồng” nơi làm việc bởi họ “hút” năng suất từ đồng nghiệp của mình”.

Bên cạnh đó, một số người cho rằng việc cộng tác hoàn toàn vô hiệu quả. Nó làm mất giá trị của những người thích làm việc độc lập hoặc cần thời gian riêng tư để suy nghĩ – đó là những người có thể đưa ra những phát kiến đầy tính bức phá miễn là tập thể đừng phản bác ý kiến đó. Susan Cain, tác giả cuốn sách Quiet: The Power of Introverts in a World That Can’t Stop Talking, tranh luận rằng “Các công ty, trường học và nền văn hoá của chúng ta đang bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi ý tưởng mà tôi gọi là New Groupthink”. “Hiện nay, hầu hết chúng ta đều làm việc theo nhóm, trong các văn phòng mở, cho những người quản lý – những người sẽ đánh giá và trao giải cho các kỹ năng con người. Thiên tài cô độc đã bị xoán ngôi bởi sự cộng tác.”

Breeden nói rằng chúng ta không thật sự làm việc một mình kể cả khi chúng ta nghĩ vậy. Cùng chiếc điện thoại, laptop và nguồn truy cập vào hệ thống tìm kiếm một cách nhanh chóng, chúng ta có khả năng đang biên soạn một bản remix hơn là sáng tạo, phát minh điều mới. Và chính sự mất tập trung liên tục đã giết chết tinh thần sáng tạo của con người.

Giải pháp khắc phục? Chúng ta cần hợp tác với ý định, ranh giới và kì vọng rõ ràng, hiểu được trách nhiệm của bản thân và giành thời gian để suy nghĩ và tư duy độc lập. Cách này sẽ góp phần truyền cảm hứng đến bạn.

(*) Tâm lý Silo là một hiện tượng suy nghĩ khi một bộ phận hoặc thành phần nào đó trong cùng một công ty không muốn chia sẻ với những người khác. Đây là loại tâm lý sẽ làm giảm hiệu quả trong hoạt động tổng thể, làm giảm tinh thần, và có thể góp phần vào sự sụp đổ của một nền văn hóa công ty sản xuất. – Breaking down silos nghĩa là phá vỡ các rào cản của tâm lý này.

(**) Cross-pollination nghĩa là sự thụ phấn chéo, ở đây nghĩa bóng diễn giải sự giao thoa.

Lời đồn về lối sống cân bằng. 

Dù trò chuyện với cha mẹ, người tham vấn doanh nghiệp hay huấn luyện viên yoga, bạn sẽ dễ dàng thấy rằng không một phẩm chất nào có thể vượt qua lối sống cân bằng trong xã hội hiện nay. Nó là phong cách sống lý tưởng mà từ những nhà triết học xa xưa đến những người dân hiện đại ngày nay luôn phấn đấu đạt được. Dường như mọi người thường đặt ra các mục tiêu về sự cân bằng giữa các yếu tố của cuộc sống như công việc và gia đình, bản thân và những người khác, kỷ luật và sự tận hưởng.

Nhà vật lý học Alex Lickerman (tín đồ Phật giáo) của trường Đại học Chicago cho rằng sự cân bằng “từng được định nghĩa là khả năng kiểm soát nhiều nhiệm vụ, trách nhiệm và không bỏ mặc những khía cạnh quan trọng trong cuộc sống chỉ vì ưu tiên những khía cạnh khác. Hầu hết mọi người đồng tình rằng cuộc sống cân bằng khiến con người bớt căng thẳng, quá tải hơn và thoả mãn nhiều hơn.”

Tuy nhiên, bản thân việc theo đuổi sự cân bằng cũng là nguyên nhân của nhiều sự mất cân bằng. Chúng ta đang phấn đấu đạt lấy sự cân bằng trong khi cuộc sống hiện nay thay đổi quá nhanh, có thể nói theo từng giây từng phút. Sự cân bằng thể hiện thông qua một chuỗi các sự lựa chọn không dứt. Nếu diễn ra quá thường xuyên, điều này sẽ dẫn đến sự thoả hiệp liên tục và sự tầm thường trong mọi việc.

Mối bận tâm hiện này là sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống và đó có lẽ là ão tưởng lớn nhất. Trên hầu hết mọi lĩnh vực, điều này có vẻ khả thi, tuy nhiên đó chỉ là mặt lý thuyết. Trong thực tế, khi mà các dự án và hạn chót đòi hỏi sự tầm trung cao độ thì sự cân bằng này có vẻ không mấy khả thi. Vì thế, cân bằng là một mục tiêu lâu dài.

Vậy đâu là mối nguy hiểm khi ta cứ mãi nỗ lực theo đuổi sự cân bằng “hoàn hảo” bất chấp mọi thứ xung quanh? Đó chính là cuộc sống bị kiểm soát quá mức, đến mức ngột ngạt. Breeden ủng hộ “bold balance” (sự cân bằng táo bạo). Nó không chỉ tôn trọng sự điều tiết mà còn xem xét đến động lực trong dòng chảy của thuỷ triều và sự chuyển hoá giữa các mùa. Ông nói rằng “Đại dương không hề dịu dàng và bốn mùa, đôi lúc cũng khắc nghiệt, cho thấy sự cân bằng liên tục và phức tạp trong nhiều chu trình tự nhiên”. Do đó, cân bằng không phải là hệ thống tĩnh mà không ngừng đòi hỏi nhiều sự quan tâm và nhận thức. Đó là lý do tại sao yoga không chỉ bao gồm các tư thế về cây cối.

Tìm kiếm sự cân bằng là vấn đề nội tại, hơn là sự phân bổ thời gian. Bạn cần phải biết điều gì thật sự quan trọng với bạn ở hiện tại, bạn cần gì để vun đắp tương lai, công việc hay thói quen nào làm hao tổn thời gian và công sức của bạn, và bạn cần bao nhiêu thời gian để hồi phục. Các phẩm chất quan trọng nhất hiện nay chính là sự nhanh nhẹn và khả năng thích ứng.

Lickerman cho rằng để đạt được sự cân bằng, chúng ta cần phải can đảm, “can đảm để đưa ra các lựa chọn khó khăn, để loại bỏ những khả năng khác nhằm chọn điều phù hợp nhất với mình, và để thoát khỏi nỗi sợ sự bất đồng hoặc thất vọng từ người khác.”

 

Tác giả: Mary Loftus

Nguồn: When virtue becomes vice, psychologytoday.com

Dịch: Kim An

Biên tập: Mỹ Hạnh

Facebook Comments

BÌNH LUẬN