Chia sẻ

Nghiên cứu cho thấy rằng những cảm xúc đau đớn được kích hoạt trong cùng một khu vực não bộ với những cơn đau thể xác.

Liệu rằng nỗi đau tinh thần có giống như nỗi đau thể xác hay không? 
Việc nóng giận bởi những lời góp ý tiêu cực có làm cho thân thể bạn đau đớn hay không?
Liệu rằng trái tim tan vỡ sau việc đánh mất mội mối quan hệ có làm đau cơ thể?
Liệu những hành động làm tổn thương cảm xúc có trở thành nguyên nhân của nỗi đau thực sự?
Liệu rằng những nỗi đau tâm lý chỉ là nét tương đồng và nó được suy ra từ nỗi đau thân thể? Phải chăng đây chỉ là sự trùng hợp về mặt ngôn ngữ vì khi tâm hồn tổn thương, chúng ta sẽ dùng từ “nỗi đau” (pain) để miêu tả cho cảm giác đó?

Những câu hỏi trên không còn đơn thuần là đề tài dành cho các nhà triết học hoặc nhà thơ. Các nhà khoa học đã đưa ra câu trả lời nhờ vào sự xuất hiện của công nghệ nghiên cứu.

Sự từ chối và cô lập gây đau đớn cho khu vực não xã hội (social brain) của chúng ta. Trên thực tế, việc tổn hại đến bất cứ mối liên kết xã hội có giá trị nào cũng tạo ra cảm giác “tổn thương”.

Tiến sĩ Eisenberger đến từ UCLA đã tìm thấy khu vực chồng lấp về mạng dây thần kinh chồng chéo giữa nỗi đau tinh thần và thể xác (1). Ông đã chứng minh phần giao nhau này bằng nhiều phương pháp hội tụ như nghiên cứu hành vi, hệ di truyền và hình ảnh thần kinh.

Quá trình trải qua nỗi đau thể xác gồm hai yếu tố (2): a) Cảm giác, ví dụ như “chân phải đau nhói trong vài phút”. Yếu tố này bao gồm vị trí, cường độ và độ dài thời gian. Yếu tố thứ hai là b) cảm xúc: khía cạnh khác của nỗi đau. Bị đau khiến bạn “cảm thấy” không thoải mái và kích hoạt nhiều cảm xúc phản ánh trạng thái bên trong như buồn, giận và cả hoảng sợ. Điều này khá dễ hiểu khi người chịu đựng những nỗi đau kinh niên thường trở nên trầm cảm hoặc lo sợ.

Những điều kiện thứ cấp như trạng thái trầm cảm có thể khiến nỗi đau thân thể kéo dài và trầm trọng hơn. Nhưng trầm cảm cũng có thể tạo nên nỗi đau. Nói cách khác, sự trầm cảm gây tổn thương con người dù không có sự góp mặt của bất kỳ nỗi đau thân thể nào trước đó và nó cũng liên kết với nhiều triệu chứng của cơ thể, ví dụ như nỗi đau tổng thể (3).

Để minh chứng cho việc cơ thể và tâm hồn trải qua nỗi đau giống nhau, chúng ta nên tìm sự kích hoạt chung trên khu vực não bộ. Điều đáng chú ý là phần yếu tố thứ hai, khía cạnh cảm xúc của nỗi đau thân thể. Nhiều nghiên cứu fMRI cho thấy những cảm xúc tiêu cực, khó chịu về nỗi đau thân thể được tạo ra ở lưng vỏ não trước Cingulate (dACC) và thuỳ đảo (AI) (4).

Câu hỏi quan trọng được đặt ra là: những tổn thương tâm lý hay xã hội có kích hoạt những vùng não tương tự, dACC và AI? Đó chính là điều Eisenberger tìm kiếm thông qua một chuỗi các nghiên cứu (5).

Nhưng, làm thế nào các nhà nghiên cứu có thể kích thích nỗi đau xã hội trong khi những người tham gia vẫn đang nằm trong máy quét fMRI? Những người tham gia thí nghiệm chơi trò “Cyberball” trên máy tính và ném trái bóng ảo về phía người chơi khác. Có lúc họ được tham gia nhận bóng và có lúc không. Điều này tương tự như việc bị ruồng bỏ bởi một nhóm xã hội. Việc bị loại ra khỏi nhóm liên quan đến mức độ kích hoạt tăng cao ở vùng dACC và AI, giống với tình trạng chịu đựng nỗi đau thể xác. Họ tiến hành ở nhiều phòng thí nghiệm khác nhau và thu được cùng một kết quả (6).

Nhưng, làm thế nào các nhà nghiên cứu biết rằng những người tham gia thực sự cảm thấy bị bỏ rơi khi họ không nhận được trái bóng ảo đó? Tất nhiên, các nhà nghiên cứu đã hỏi họ. Và khi người tham gia càng trải qua nỗi đau xã hội (ví dụ như họ cảm thấy mình không có giá trị) thì hoạt động não bộ càng liên hệ chặt chẽ với yếu tố cảm xúc của nỗi đau thân thể. Mối tương quan giữa sự kích thích mạnh lên dACC, AI và sự đau buồn xã hội mà người tham gia tự bày tỏ đối với việc bị ruồng bỏ cũng được phát hiện trong nhiều thí nghiệm tiếp theo (7).

Phải chăng mỗi người có một cách phản ứng khác nhau đối với tổn thương xã hội? Có phải một số người khá nhạy cảm về việc này?

Hoàn toàn chính xác!

Khả năng giảm thiểu kích thích lên những vùng não liên quan đến nỗi đau phụ thuộc vào mức độ ủng hộ xã hội mà người đó nhận được khi phải trải qua những nỗi đau đó. Một nghiên cứu khác cho thấy mức độ nhạy cảm cao ở dACC và AI đối với tổn thương xã hội ở những đối tượng khát khao sự chấp thuận và luôn đề phòng những dấu hiệu dự báo sự ruồng bỏ (tuýp người hay lo lắng) (9).

Có vài điểm khác biệt trong quá trình xử lý nỗi đau thân thể do yếu tố biến dị di truyền. Ví dụ, sự đa hình của cơ quan cảm thụ opioid đã được chứng minh có liên quan với mức độ nhạy cảm nỗi đau thân thể. Những cá thể mang gen allele G hiếm có mức độ nhạy cảm cao hơn đối với nỗi đau thể xác và cần nhiều thuốc để chịu đựng nỗi đau đó (10).

Vậy, những người mang gen allele G cũng nhạy cảm hơn đối với nỗi đau xã hội?

Đó chính là kết quả của cuộc nghiên cứu. Những người tham gia thí nghiệm mang gen allele G đạt điểm cao hơn trong bài đo mức độ nhạy cảm khi đối mặt với việc bị ruồng bỏ và thể hiện mức độ kích hoạt mạnh ở dACC và AI trong trò chơi trên, so với những đối tượng không mang gen allele G (11).

Vâng, tổn thương xã hội là một nỗi đau thực sự.

Điều này giải thích tại sao khi đau buồn, người ta thường tự chữa lành vết thương bằng cách tìm đến rượu, thuốc, chất kích thích và cả những mối quan hệ không lành mạnh. Thật ra, trong một nghiên cứu, người ta phát hiện rằng khi người tham gia sử dụng Tylenol (thuốc giảm đau) trong ba tuần, họ cảm thấy ít bị tổn thương hơn những người sử dụng giả dược. Hơn thế nữa, những người uống Tylenol cũng thể hiện ít kích thích ở dACC và AI khi đối mặt với việc bị xã hội bỏ rơi trong kiểm tra fMRI, so với người uống giả dược (12).

Điểm tương đồng về vùng mạng lưới thần kinh giữa nỗi đau xã hội và thể xác có quan hệ mật thiết với giáo dục, công việc và các mối quan hệ. Khi những đứa trẻ bị bỏ rơi, cô lập ở trường, chúng thực sự bị tổn thương. Khi những người đồng nghiệp thường xuyên không được mời tham gia cùng ăn trưa, họ thực sự bị tổn thương. Bị bạn bè, đồng nghiệp, cha mẹ từ chối khiến chúng ta rất đau lòng. Trẻ con có thể giận dữ phản kháng như một cách phòng vệ tự nhiên. Và, dĩ nhiên, sự giận dữ đó khi không được bộc lộ ra ngoài sẽ chuyển hoá thành bệnh tâm lý và thần kinh. Không may thay, một vài nhóm thiểu số bị phần lớn xã hội xem như phần phụ hoặc bị xếp vào tầng lớp thấp.

Và họ vẫn đang tổn thương…

Tôi hy vọng không “tổn thương” cảm xúc của bạn khi viết bài này!

  • Tác giả: Marwa Azab Ph.D.
  • Nguồn: Is social pain real pain? – psychologytoday.com
  • Dịch: Kim An
  • Hiệu đính: Mỹ Hạnh

Tham khảo

  • (1) Eisenberger, N. I. (2012). Psychosomatic Medicine, 74(2):126-135. (a review)
  • (2) Treede RD, Kenshalo DR, Gracely RH, Jones AKP. The cortical representation of pain. Pain. 79:105–111.
  • (3) Trivedi, M. H. (2004). The Link Between Depression and Physical Symptoms. Primary Care Companion to The Journal of Clinical Psychiatry, 6(suppl 1), 12–16.
  • (4) Peyron R, Laurent B, Garcia-Larrea L. Functional imaging of brain responses to pain. (2004). A review and meta-analysis. Neurophysiology Clin.30:263–88. (a review & meta-analysis)
  • (5) Eisenberger NI, Lieberman MD, Williams KD. (2003). Does rejection hurt: An fMRI study of social exclusion. Science. 2003; 302:290–2. First ever study to look at social pain in the brain
  • (6) Gunther Moor B, Guroglu B, Op de Macks ZA, Rombouts SARB, Van der Molen MW, Crone EA. (2012). Social exclusion and punishment of excluders: Neural correlates and developmental trajectories.
  • (7) Masten CL, Eisenberger NI, Borofsky L, Pfeifer JH, McNealy K, Dapretto M. (2009). Neural correlates of social exclusion during adolescence: Understanding the distress of peer rejection. Social Cognitive and Affective Neuroscience.
  • (8) Masten, C. L., Telzer, E. H., Fuligni, A. J., Lieberman, M. D., & Eisenberger, N. I. (2012). Time spent with friends in adolescence relates to less neural sensitivity to later peer rejection. Social Cognitive and Affective Neuroscience, 7(1), 106–114. http://doi.org/10.1093/scan/nsq098
  • (9) DeWall CN, Masten CL, Powell C, Combs D, Schurtz DR, Eisenberger NI. (2012). Does the pain of rejection depend on attachment style? An fMRI study. Soc Cogn Aff Neuro.
  • (10) Coulbalt L, Beaussier M, Verstuyft C, Weikmans H, Dubert L, Trégouet D, et al. (200). Environmental and genetic factors associated with morphine response in the postoperative period. Pharmacogenet Gen. 79:316–24.
  • (11) Way BM, Taylor SE, Eisenberger NI. (2009). Variation in the mu-opioid receptor gene (OPRM1) is associated with dispositional and neural sensitivity to social rejection. P Natl Acad Sci. 106:15079–84.
  • (12) DeWall CN, MacDonald G, Webster GD, Masten CL, Baumeister RF, Powell C, Combs D, Schurtz DR, Stillman TF, Tice DM, Eisenberger NI. (2010). Acetaminophen reduces social pain: Behavioral and neural evidence. Psychol Sci. 21:931–7.
Facebook Comments

BÌNH LUẬN