Chia sẻ

Hiệu ứng Boomerang được đặt tên và ghi nhận bởi các nhà tâm lý học Hovland, C.I., Janis, I.L., và Kelly , H.H. vào năm 1953.

Boomerang là một thứ vũ khí có kỹ thuật cao của người nguyên thủy, khi được phóng đi nó có thể tạo trong không khí những đường đi rất phức tạp, và nếu không trúng đích nó có thể quay trở lại chân người ném.

Vì lý do này Boomerang được đặt tên cho hiệu ứng tâm lý đề cập đến những hậu quả không mong đợi của một nỗ lực thuyết phục dẫn dến việc áp dụng một vị trí đối lập thay vào đó.

Hiệu ứng Boomerang mô tả một tình huống tâm lý xã hội trong đó một người  trình bày một thông điệp thuyết phục tới người nhận và sau đó được nhận lại kết quả ở lập trường ngược lại, không được phải là bản gốc và thông điệp mong muốn. Về cơ bản chúng là “boomerang” từ phía đối lập với chủ đề mà thông điệp này xuất phát. Hiệu ứng này thường được tạo ra khi tỉ lệ phản đối lớn hơn ủng hộ thông điệp gốc.
Các nghiên cứu cho thầy điều này xảy ra bởi vì một người cảm thấy sự tự do lựa chọn của họ đang bị vi phạm và đôi khi họ phản ứng bằng cách đi đến lập trường ngược lại. Một ví dụ có thể được nhận thấy trong các tin nhắn công cộng. Nếu một thông điệp quá mạnh hoặc dữ đội thì nó sẽ không hiệu quả.
Ví dụ: nếu một biển báo chống xả rác quá mạnh và nói rằng “Bạn PHẢI xử lý rác” thì mọi người có xu hướng xả rác nhiều hơn là khi họ thấy một thông điệp kín đáo hơn nói rằng “Làm ơn vứt rác vào thùng”.

Các nhà khoa học nhận thấy rằng hiệu ứng này có khả năng dưới những điều kiện sau:

Những thừa nhận ban đầu về điều kiện xảy ra hiệu ứng Boomerang

  • Khi những tranh lập lỏng lẻo đi kèm với các nguồn dẫn tiêu cực.
  • Khi sự thuyết phục mập mờ dẫn dắt người tiếp nhận tin tức rằng người nói đang cố thuyết phục họ theo một hướng khác với dự định của người nói.
  • Khi sự thuyết phục khởi đầu gây nên sự gây hấn hay sự kích thích cảm xúc lâu dài.
  • Khi việc giao tiếp làm tăng kiến thức của người tiếp nhận về các quy tắc, chuẩn mực và làm họ tuân thủ các điều luật này hơn.
  • Khi việc không tuân thủ các quy tắc của nhóm đem lại cảm giác tội lỗi hay bị xã hội lên án.
  • Khi lập trường của người truyền đạt và người tiếp nhận quá khác biệt, do đó tạo nên hiệu ứng đối lập và làm tăng cường quan điểm của mỗi bên.

Sau đó, vào năm 1957, Hovland, Sherif và Harvey thảo luận sâu hơn về sự cần thiết của việc hiểu rõ những thay đổi thái độ ngoài dự định trong việc thuyết phục và họ cũng đưa ra một số phương pháp khả thi cho việc phân tích thông qua các quá trình động lực cơ bản, tác nhân tâm – vật lý cũng như các nguyên liệu ngôn ngữ bao hàm cái tôi cá nhân. Jack Brehm và Arthur Cohen là một trong những người đầu tiên đưa ra giải thích về mặt lý thuyết. Trước tiên, Jack Brehm khiến mọi người chú ý đến hiện tượng “việc đã rồi” (fait accompli) –  điều có thể gây nên sự bất hoà nếu sự việc dẫn đến một hành vi trái ngược với mong đợi ban đầu.

Ông tiến hành thí nghiệm để kiểm tra hành vi của các học sinh lớp 8 khi ăn món rau củ mà chúng không hề thích. Khoảng một nửa số học sinh được bảo rằng ba mẹ chúng sẽ được thông báo về loại rau củ mà chúng ăn. Sau đó, mức độ yêu thích loại rau củ đó được kiểm tra trước và sau quá trình đó. Kết quả cho thấy những học sinh ít hoặc không biểu lộ những thái độ khác biệt giữa lúc phục vụ và lúc ăn món rau củ đó tại nhà thường sẽ ít hoặc không có cảm giác bất đồng khi thích các loại rau củ trong các điều kiện kết quả từ thấp đến cao. Do đó, họ kết luận rằng mức độ không ưa thích ban đầu của cá thể càng lớn thì áp lực mà thí nghiệm trên tạo ra để kích thích sự yêu thích của cá thể đó càng lớn. Bên cạnh đó, khi thái độ ban đầu của cá thể càng cực đoan thì sự cản trở quá trình thay đổi thái độ đó càng lớn. Tuy nhiên, họ tranh luận rằng, trong thí nghiệm trên, áp lực dùng để giảm sự bất hoà tăng nhanh hơn, cùng với việc gia tăng sự khác biệt, so với mức độ tăng của sự cản trở. Điều này giúp kiểm nghiệm thuyết xung đột nhận thức của Festinger. Sau đó, Sensenig và Brehm tập trung vào hiệu ứng Boomerang trong các thí nghiệm và áp dụng thuyết đối kháng tâm lý của Brehm để giải thích những sự thay đổi thái độ ngoài dự định.

Phân tích thuyết đối kháng tâm lý

Sensenig và Brehm áp dụng thuyết đối kháng của Brehm vào việc giải thích hiệu ứng Boomerang.

Họ cho rằng khi một người nghĩ rằng anh ta bị giới hạn sự tự do để củng cố quan điểm của mình, hiện tượng đối kháng tâm lý sẽ bị kích thích và kết quả là người đó sẽ thay đổi quan điểm hay thái độ của mình nhằm phục hồi sự tự do đã mất. Họ yêu cầu các sinh viên viết một bài luận ủng hộ một khía cạnh trong năm vấn đề được đưa ra và họ cũng khiến một số sinh viên tin rằng bài luận thuyết phục này sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định các vấn đề trên. Vì vậy, những ai có cảm giác rằng sở thích của họ sẽ được cân nhắc trong việc quyết định chọn phe mà họ củng hộ trong vấn đề thứ nhất thường sẽ thay đổi quan điểm và ủng hộ quan điểm họ yêu thích; trong khi đó, những ai quan tâm đến việc mất tự do thì sẽ chọn quan điểm mà người truyền đạt đã đưa ra.

Thí nghiệm trên dẫn đến nhiều mắt xích khác nhau trong chuỗi nguyên nhân:

  • (a) khi sự tự do của một người bị đe doạ, người đó sẽ có động lực hướng đến việc khôi phục sự tự do bị đe doạ đó;
  • (b) mức độ sự tự do bị đe doạ càng lớn, khuynh hướng phục hồi sự tự do cũng càng lớn;
  • (c) việc tái thiết lập sự tự do có thể xảy ra dưới dạng đưa ra quan điểm khác với quan điểm bị người khác áp đặt.

Về sau, Jack Brehm và Sharon Brehm phát triển thuyết đối kháng tâm lý và thảo luận về những ứng dụng của nó. Họ cũng liệt kê một chuỗi các phản ứng mà sự phản kháng có thể kích thích bên cạnh hiệu ứng Boomerang. Những phản ứng này sẽ bao gồm, chứ không giới hạn hiệu ứng có liên quan đến hiệu ứng Boomerang, sự phục hồi gián tiếp hay hiệu ứng Boomerang thay thế.

Phân tích thuyết xung đột nhận thức

 Thuyết xung đột của Leon Festinger đã thúc đẩy quá trình nghiên cứu tâm lý học xã hội trong những năm 1960 vì nó không hạn chế chỉ trong việc dự đoán các ảnh hưởng mà còn góp phần ủng hộ hầu hết các lĩnh vực nhỏ khác trong việc nghiên cứu ngành tâm lý học. Mặc dù chính Festinger cũng cảm thấy mơ hồ về vai trò của sự cam kết trong học thuyết này, các nhà nghiên cứu sau đó như Brehm và Cohen đã nhấn mạnh mức độ quan trọng của nó khi đưa ra một quan niệm khái quát về hiệu ứng Boomerang.

Những nghiên cứu trước đó của Thibaut và Strickland, Kelley và Volkhart cũng đã ủng hộ quan điểm này của thuyết xung đột mặc dù chúng không được diễn đạt bằng thuật ngữ chính xác.

Theo Cohen, thuyết xung đột tâm lý không chỉ đưa ra lời giải thích mà còn đưa ra sự suy đoán về cả sự tác động dự định và ngoài dự định trong việc giao tiếp thuyết phục thay đổi quan điểm. Trong thí nghiệm của mình, ông ấy đã trình bày các yếu tố dẫn đến hiệu ứng Boomerang trong khi đưa ra một cái nhìn rộng hơn về các kết quả ngoài dự kiến, hơn là một trường hợp phản ứng  nhằm thay đổi thái độ. Cohen đề xuất một mô hình công thức xung độ kéo theo của việc thay đổi quan điểm ngoài dự định bằng giao tiếp thuyết phục.

Đầu tiên, giả sử rằng sự xung đột sẽ trỗi dậy đối với một số nhận thức không rõ ràng. Theo thuyết xung đột nhận thức của Festinger, chúng ta biết rằng sự xung đột có thể được giảm bớt bằng việc thay đổi nhận thức. Bây giờ, giả sử sự chống đối thay đổi là rất lớn vì sự việc thực tế không thể bị thay đổi và ý nghĩa của nó thì rất mơ hồ (ví dụ, một người giữ rất vững lập trường ban đầu của mình), sau đó, người đó sẽ phải lựa chọn những hình thức khác để giảm bớt hoặc loại bỏ xung đột. Ở trường hợp sau, vấn đề về sự khác biệt có thể được giải quyết thông qua sự thêm vào các yếu tố phù hợp với nhận thức ban đầu, điều đã tạo ra hiệu ứng Boomeranf. Cohen đề ra một tình huống của hiệu ứng Boomerang tương hỗ, trong đó, người truyền đạt nỗ lực khiến người còn lại tin theo quan điểm của anh ta bằng cách giao tiếp thuyết phục. Vì lập trường mạnh mẽ ban đầu của người truyền đạt, Cohen dự đoán rằng sự khác biệt về quan điểm ban đầu của hai người càng lớn, mức độ xung đột nhận thức mà người truyền đạt phải trải qua cũng càng lớn. “Tác động ngoài dự kiến” được ông mong đợi xuất hiện khi người truyền đạt cố gắng thuyết phục người kia về giá trị của quan điểm bản thân bằng cách trở nên cực đoan hơn về quan điểm đó. Ông yêu cầu những người tham gia thí nghiệm viết một bài luận thuyết phục mạnh mẽ cho những người cộng sự thuộc cùng liên minh nhưng với quan điểm trái ngược. Các đối tượng đã cư xử như một người truyền đạt nhằm khiến cộng sự theo phe của họ. Các đối tượng cũng được yêu cầu đánh giá mức độ yêu thích và thân thiện của người cộng sự trước khi họ động bài văn của người cộng sự đó. Cohen sử dụng sự thay đổi thái độ của người cộng sự như cách thức của sự đối kháng khi mà ông đã ngẫu nhiên chỉ định các đối tượng vào các nhóm xung đột cao và thấp. Kết quả cho thấy hiệu ứng Boomerang mạnh mẽ ở các nhóm có mức độ xung đột cao. Ông cũng phát hiện rằng phản ứng đối với mức độ yêu thích và thân thiện của cộng sự cũng có liên quan trong tình huống này. Dữ liệu cho thấy sự khác biệt trong các điều kiện xung đột phần lớn bị giới hạn và phóng đại đối với các đối tượng ban đầu đáng giá cộng sự của mình là khá dễ thương và thân thiện.

Nghiên cứu của Cohen về hiệu ứng Boomerang đã mở rộng phạm vi của giao tiếp thuyết phục, từ đơn thuần là phản ứng của người tiếp nhận mở rộng sang nỗ lực của người truyền đạt nhằm tác động đối tượng của mình. Thuyết xung đột nhận thức gợi rằng vấn đề cơ bản là người đó củng cố quan điểm ban đầu của mình dưới những điều kiện nào, điều này như một cách nhằm giảm sự không nhất quán về quan điểm. Cohen cũng cho rằng sự xung đột có thể giảm bớt thông qua hiệu ứng Boomerang khi xung đột được tạo ra (a) với sự quyết tâm mạnh mẽ thuyết phục người khác, (b) không có sự kỳ vọng nào về nỗ lực ảnh hưởng sâu xa hơn, và (c) không có cơ hội nào để khước từ người kia. Những kết quả của ông về mức độ yêu thích đã củng cố thêm sự lý giải trên vì những nhóm ít xung đột sẽ thường thấy cộng sự của mình dễ thương và thân thiện hơn, trong khi điều này chỉ làm tăng thêm sự xung đột cho các nhóm còn lại.

Nói cách khác, sự xung đột có thể được giảm bớt bằng cách trở nên cực đoan hơn về quan điểm ban đầu, và, vì thế, làm tăng phần nhận thức ủng hộ cho lập trường đó và giảm phần nhận thức xung đột.

Những phân tích khác về hiệu ứng Boomerang

Hiệu ứng Boomerang đôi khi được đề cập đến phản tác động thái độ hay quy kết. Các nhà nghiên cứu áp dụng thuyết quy kết của Heider để giải thích tại sao điều này xảy ra.

Ví dụ, Skowronski, Carlston, Mae và Craford trình bày các ảnh hưởng dựa trên sự liên kết trong nghiên cứu của họ về hiệu ứng truyền đặc điểm tự động (spontaneous trait transference). Dù sự mô tả về người còn lại không phụ thuộc vào người truyền đạt nhưng những quá trình liên kết đơn giản sẽ gắn kết hai người với nhau và tạo hiệu ứng Boomerang.

Ứng dụng hiệu ứng Bommerang vào đời sống

Hành vi người tiêu dùng

Wendlandt và Scharafer nghiên cứu về việc người tiêu dùng kháng lại các chương trình khách hàng trung thành thường xuất hiện trong lĩnh vực quan hệ khách hàng.

Họ phát hiện rằng:

  • (a) sự liên kết thông qua hợp đồng kích thích phản ứng đối kháng,
  • (b) sự liên kết tâm lý học xã hội không làm tăng sự đối kháng hay những lợi ích có thể nhận thấy của chương trình,
  • (c) sự liên kết kinh tế làm tăng những lợi ích đó đến một ngưỡng nhất định và từ đó nảy sinh hiệu ứng Boomerang.

Những kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý đánh giá những tác động từ việc thực hiện các biện pháp nhằm giữ khách hàng và, bên cạnh đó, cũng nhắc nhở họ cần áp dụng các chương trình thành viên thân thiết một các thận trọng và có chừng mực.

Sự bóc lột có chủ ý

Chiến thuật của tâm lý ngược, hay sự khai thác có chủ đích của hiệu ứng Boomerang được mong đợi, là nỗ lực giả vờ mong muốn kết quả đối lập với điều mình thật sự mong muốn và khi đó, sự kháng cự sẽ diễn ra theo ý muốn thực sự của người đó (ví dụ, ngữ “Please don’t fling me in that briar patch” dùng để cầu xin người khác hãy tiếp tục làm việc họ đang làm vì điều đó sẽ đem lại lợi ích cho mình).

Truyền thông về sức khoẻ

Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng một số sự can thiệp sức khoẻ cộng đồng tạo nên kết quả trái ngược với dự dịnh trong vấn đề truyền thông về sức khoẻ, chẳng hạn như việc tiêu thụ thuốc lá và rượu bia, và vì thế họ đã sử dụng nhiều phương pháp để nghiên cứu trong nhiều trường hợp khác nhau. Ringold lập luận rằng một số phản ứng tiêu cực của khách hàng về việc cảnh báo nước uống có cồn và những nỗ lực giáo dục có thể được lý giải một cách chính xác bằng thuyết đối kháng tâm lý của Brehm. Những kết quả này cho rằng hiệu ứng Boomerang nên được xem xét như

Các hao tổn có thể xảy ra khi tiến hành

các chiến dịch truyền thông đại chúng. Dillard và Shen cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của thuyết đối khác trong việc hiểu rõ các thất bại của việc truyền thông về sức khoẻ nhưng họ cho rằng có vấn đề về việc đo lường. Vì thế, họ phát triển bốn nền tảng khái niệm thay thế về bản chất của sự đối kháng cũng như đưa ra cách kiểm tra thực tiễn cho mỗi nền tảng đó.

Hành vi về môi trường

Mann và Hill nghiên cứu trường hợp kiểm soát rác thải và chỉ ra rằng sự kết hợp các chiến lược ảnh hưởng tích cực khác nhau có thể gây ra hiệu ứng Boomerang và giảm số lượng xả thải nhất định. Schultz et al. (2007) kết luận rằng thí nghiệm trên điều kiện thực tế, trong đó sử dụng các thông điệp có tính quy chuẩn nhằm khuyến khích bảo toàn năng lượng trong hộ gia đình khi họ thấy các thông điệp mô tả về cách sử dụng của hàng xóm, tạo nên hiệu ứng Boomerang phụ thuộc vào sự tiêu thụ ưu tiên trong gia đình. Họ cũng loại bỏ hiệu ứng Boomerang bằng cách thêm một thông điệp có tính mệnh lệnh về sự chấp nhận của xã hội. Kết quả nghiên cứu đưa ra chứng cứ thực tiễn cho nghiên cứu trước đó về khung lý thuyết của hiệu ứng Boomerang.

Sự giúp đỡ

Schwartz và Howard bàn luận về sự xuất hiện của hiệu ứng Boomerang trong việc trợ giúp người khác vì họ thấy rằng sự có mặt của các yếu tố nhất định được cho là sẽ kích hoạt sự giúp đỡ nhưng thực chất là làm giảm sự giúp đỡ. Họ chỉ ra ba dạng liên quan của hiệu ứng Boomerang trong việc giúp đỡ. Đầu tiên, khi các cá thể nhận thức được rằng sự giúp đỡ thường gợi đến các câu nhờ vả mạnh mẽ, họ sẽ trở nên nghi ngờ và quan tâm đến động cơ và tính nghiêm trọng thực sự trong lời nhờ vả đó (ví dụ như sự ngờ vực). Thuyết đối kháng được sử dụng để đưa ra lời giải thích thứ hai. Họ nói rằng những cá thể sẽ phản ứng lại quyền tự do bị đe doạ bằng cách phản ứng trái ngược với nỗ lực của xã hội hoặc tuyên bố rằng họ bất lực. Loại thứ ba liên quan đến những lợi ích bên trong bị đánh giá thấp do những thừa nhận bên ngoài.

An ninh quốc gia và con người

Liotta cố gắng để hiểu về các quyết định chính sách và những lựa chọn về tương lai bị ảnh hưởng bởi sự mập mờ của các mối quan tâm liên quan đến an ninh trung tâm quốc gia và con người. Cô ấy đề xuất rằng hiệu ứng Boomerang xảy ra ở các khu vực mà ở đó có sự tập trung kinh phí quá mức vào một mặt của an ninh hoặc sự tổn hại của mặt còn lại là sự thiếu cân bằng giữa mục tiêu và phương thức trong môi trường an ninh thay đổi và thay vào đó, chúng ta nên tập trung vào cả hai khía cạnh: an ninh quốc gia và an ninh con người.

Tư tưởng chính trị

Nyhan và Reifler tiến hành thí nghiệm, trong đó đối tượng nghiên cứu đọc những bản tin mô phỏng bao gồm một nhận định lạc lối của một chính trị gia hoặc một lời nhận định tương tự nhưng đi kèm với lời hiệu chỉnh. Họ thấy rằng những lời đính chính đó thường thất bại trong việc giảm thiểu quan niệm lệch lạc của nhóm có ý thức hệ bị người nghiên cứu cố tình cung cấp sai thông tin. Họ cũng phát hiện các trường hợp mà họ gọi là “hiệu ứng phản tác dụng” (backfire effect), ví dụ như hiệu ứng Boomerang, khi đó, các thông tin đính chính góp phần củng cố thêm niềm tin về thông tin sai lệch. Họ quy kết điều này với việc lý luận có động cơ trong nhóm các đối tượng nghiên cứu đã bị tác động.

 

Ghi chú: Bài viết được hệ thống với danh mục các hiệu ứng tâm lý trong danh mục HIỆU ỨNG TÂM LÝ

Facebook Comments

BÌNH LUẬN