SHARE

Trong cuốn “The White Album” của mình, Joan Didion nổi tiếng đã viết “Chúng ta tự kể cho mình những câu chuyện để sống”.

Bởi nhiều cách khác nhau, Didion đã đúng: Câu chuyện dường như không phải nhu cầu tồn tại cơ bản, nhưng trí não của chúng ta kể chuyện tự nhiên như một cách để tạo ra các cấu trúc và ý nghĩa cho cuộc sống của ta.

Theo nghiên cứu tâm lý học kể chuyện (narrative psychology), một lĩnh vực nghiên cứu đang nổi lên đã xem xét các câu chuyện của chúng ta đã định hình cuộc sống và tính cách của chúng ta như thế nào? những câu chuyện mà ta kể với bản thân mình đóng một vai trò lớn để xác định chúng ta là ai.

Sự nhận thức khởi xướng khi bộ não nhận được sức mạnh, sức mạnh đơn giản mà tôi đã thêm vào, trong quá trình kể chuyện”, lời giải thích của nhà thần kinh học Antonio Damasio.

Tất cả chúng ta đều có một câu chuyện đặc biệt quan trọng mà chúng ta tự nói với bản thân mình “câu chuyện cuộc đời””của chúng ta, giúp chúng ta tổ chức những kinh nghiệm và cho chúng  ta cảm giác về bản thân, thậm chí còn chỉ ra những hành vi của trung ta trong trường hợp nào đó.

Chúng ta liên tục cập nhật, sửa đổi và thêm thắt vào những câu chuyện này khi chúng ta có thêm những trải nghiệm mới.

Dan McAdams, giáo sư tâm lý học của đại học Northwestern, tác giả của cuốn “The Redemptive Self: Stories Americans Live By” (Tạm dịch là Tự cứu chuộc: Những câu chuyện của người Mỹ sống động), đã trả lời phỏng vấn của The Huffington Post rằng “Những câu chuyện mà chúng ta nói với bản thân mình về cuộc sống của mình không chỉ định hình tính cách ta–nó chính là nhân cách của chúng ta””

Theo McAdams – người đã nghiên cứu những “câu chuyện cuộc đời” gần 30 năm thì Nhân cách xuất hiện dưới nhiều tầng lớp.

  • Lớp đầu tiên là đặc điểm cơ bản của chúng ta, được tạo nên bởi các đặc điểm do di truyền học và môi trường của chúng ta.
  • Lớp thứ hai chứa những giá trị và các mục tiêu.
  • Lớp thứ ba là câu chuyện chúng ta kể về cuộc sống của mình, một loại ““kịch bản nhận thức””giúp chúng ta có thể hiểu được làm thế nào chúng ta đang sống như vậy, và chúng ta nghĩ cuộc sống của chúng ta đi đến đâu, cho chúng ta những cảm nhận ý nghĩa và mục đích.

“Đây không chỉ là những thứ riêng biệt có ảnh hưởng đến việc chúng ta là ai”, “ Chúng là, ở một mức độ nào đó, Chúng là chính chúng ta và hòa vào trong nhân cách của chúng ta như một tính năng tường thuật cá nhân”, McAdams nói.

Bằng cách hiểu rõ cách chúng ta tạo nên những câu chuyện này và cấu trúc của chúng, chúng ta có thể thay đổi những câu chuyện của riêng mình và viết lại kịch bản để cải thiện cuộc sống.

THOMAS BARWICK QUA GETTY IMAGES

Dưới đây là 6 nguyên tắc mà tâm lý học kể chuyện giúp bạn hiểu rõ hơn về “câu chuyện cuộc đời” của bạn.

1.       Câu chuyện của bạn không ngừng phát triển, trở nên càng tích cực hơn trong cuộc sống.

McAdams cho rằng, Trẻ con khoảng 5-6 tuổi có thể kể các câu chuyện và hiểu được cách để tường thuật, nhưng nó chỉ đến khi trẻ trưởng thành.
Khi đó chúng ta bắt đầu kể những câu truyện một cách lớn hơn, kể lại những chi tiết tích hợp có ý nghĩa hơn.
Khi chúng ta đến tuổi thanh thiếu niên, chúng ta bắt đầu có những câu hỏi lớn hơn như: Tôi là ai? Tôi sẽ đi đâu? Tôi đến từ đâu? Những câu hỏi này đóng vai trò quan trong trong động lực phát triển của một câu chuyện cuộc đời tích hợp.
Câu chuyện này sẽ tăng dần sự phức tạp lên – bạn mang đến nhiều đặc điểm, chủ đề, và những bộ phim truyền hình nhiều hơn – khi bạn bước lên tuổi 20, 30.
Theo McAdams, cho đến lứa tuổi 40, chúng ta biết rằng các câu chuyện của mình trở nên đơn giản và cô đọng hơn.

McAdams cho biết, “Có một số nghiên cứu cho rằng, sự phức tạp của các tự truyện đã tăng lên cho lứa tuổi 40 của một người, cũng như lứa tuổi 50”. Sau đó bạn có xu hướng đơn giản hóa một chút. Nếu bạn nhìn vào những người ở tuổi trung lưu và sau đó, câu chuyện của họ có xu hướng nhẹ nhàng hơn, mềm mỏng hơn và hạnh phúc hơn…Đó là sự cải tiến theo thời gian.

Khi bạn còn trẻ, sẽ chẳng có khoảng trống nào trong câu chuyện cho những bộ phim drama, xung đột và tiêu cực. Nhưng sau khi mọi người đến lứa tuổi trung lưu và cuộc sống sau này (thường phù hợp với mức độ ngày càng tăng của hạnh phúc và thành đạt), những phần của câu chuyện dần trở thành bức phông nền. Theo xu hướng chung của tuổi tác, câu chuyện ngày càng trở nên sai lệch theo thời gian.

McAdams nói: “Khi mọi người lớn lên, họ có vẻ ít đi sự sai lệch cho những câu chuyện,”. “Họ sẽ tạo dựng lại quá khứ và quên đi hoặc hạ thấp những điều tệ hại đi một chút”.

2.       Cảm xúc hiện tại của bạn sẽ tô màu toàn bộ sự kể chuyện của bạn.

Tâm lý học nói với chúng ta rằng sự nhận thức của chúng ta chẳng phải khách quan cho lắm: Chúng ta nhìn thấy những gì chúng ta muốn thấy, và nhận thức của chúng ta thường tô màu bằng các suy nghĩ và cảm xúc.

Khi nó trở thành những câu chuyện cuộc đời, trạng thái cảm xúc của chúng ta hiện tại và hoàn cảnh sống của chúng ta có một tác động rất lớn đến cách chúng ta giải thích quá khứ và tưởng tượng tương lai – thậm chí dựa trên từng thời điểm, theo McAdams.
Đi qua các giai đoạn trầm cảm hoặc tổn thương có thể thay đổi toàn bộ câu chuyện của bạn trong khoảng thời gian đó. Ví dụ, trong lúc hồi phục sau quá trình ly hôn hoặc chia tay, bạn có thể nhìn nhận quá khứ một cách ảm đạm hơn và có động lực để giải thích về cách bạn có quan điểm này.
“Nó giống như lịch sử. Câu chuyện cuộc đời của bạn, ít nhất với sự tôn trọng quá khứ, không phải là sự cố chấp”, McAdams nói, “Nó luôn đi qua một đoạn chuyển đổi. Cũng giống như cách mà các nhà sử học xem xét lại quá khứ -–họ nhìn thấy Chiến tranh Thế giới thứ nhất theo cách thức hiện tại và có thể trong 30 năm sau họ sẽ nhìn nó theo một cách thức khác – bạn sẽ nhìn thấy tuổi thơ của mình ở ngay thời giểm này và muộn hơn theo một cách khác bởi những gì mà bạn đã trải qua tại thời điểm đó”.

Nhưng đừng lo lắng quá nhiều nếu như bạn đang trải qua một phần thô sơ: Mặc dầu theo khuynh hướng này, những câu chuyện kể của chúng ta có khuynh hướng vượt ra ngoài và quay trở lại trạng thái cân bằng theo thời gian.

3.       Chúng ta hiểu được câu chuyện cuộc đời của mình trong cấu trúc của một cuốn tiểu thuyết.

“Con người có khả năng tham gia vào bộ nhớ theo các giai đoạn – họ có thể nhớ lại các kịch bản từ quá khứ mà có sự bắt đầu, ở giữa và kết thúc; những câu chuyện nhỏ”. “Bạn có thể tưởng tượng tương lai như những câu chuyện nhỏ chưa từng xảy ra”, theo McAdams.

Chất lượng những chương này là một phần tự nhiên của bộ nhớ và suy nghĩ trong tương lai, và bộ não dường như tạo ra sự tường thuật để đưa ra những cấu trúc cho những suy nghĩ về quá khứ và tương lai.

Chúng ta nghĩ về cuộc sống của mình theo trình tự thời gian, phân chia trải nghiệm của chúng ta thành “các chương” dựa trên những sự kiện chính trong đời sống – học hành, vị trí địa lý, công việc, các sự kiện gia đình lớn và nhiều điều khác nữa.
Nghiên cứu khoa học nhận thức đã củng cố ý tưởng cho rằng mọi người sắp xếp đời sống của mình một cách tự nhiện dựa trên những loại đơn vị rộng rãi này.

4.       Những câu chuyện của người thành công chứa đựng những chủ đề về sự cứu chuộc.

Khi McAdams và sinh viên của ông xem xét các câu chuyện cuộc đời của một nhóm người trong độ tuổi 30-40, những người xem như họ được sinh trưởng ở mức độ cao –tương ứng với sự chăm sóc, sự phong phú và được cam kết để tạo nên sự khác biệt tích cực trên thế giới. Ông và các sinh viên tìm thấy rằng, những người này đã mang đến những đề tài về sự cứu chuộc vào những chuyện kể của họ một lần nữa.

McAdams cho biết: “Việc cứu chuộc (Redemption) được xem như khi điều gì đó trong câu chuyện trở nên thực sự tệ”, “Họ sẽ nói về một sự kiện tiêu cực” – một sai lầm, hoặc một số gián đoạn hay mất mát -–và từ sau đó họ sẽ chuyển sang những kết quả tích cực.

Lấy ví dụ, một người có thể xem việc sa thải hoặc ly hôn như là một chất xúc tác cho cơ hội tốt hơn sau này trong đường đời.
Các khuôn mẫu cơ bản của một kịch bản được sinh ra luôn là một trong những đau khổ đã trải qua và có được kết quả tốt hơn so với bạn trải qua trước đây.
“Chúng ta đều biết làm thế nào để làm được điều đó và nhiều người chúng ta đã làm như vậy, nhưng những người sinh trưởng với mức cao làm điều đó rất nhiều. Họ có gấp đôi lần số các chủ đề cứu chuộc trong những câu chuyện cuộc đời của họ so với chúng ta.

5.       Câu chuyện của bạn được định hướng bởi các chuẩn mực xã hội và văn hóa.

Trong số những người trưởng thành với mức cao generativity* kể những câu chuyện cứu chuộc như một cách khá phổ quát, McAdams cũng lưu ý rằng những câu chuyện này đặc biệt vững chắc trong xã hội Mỹ. Trong các xã hội khác nhau, có thể có những câu chuyện khác nhau tương quan với sự generativity.

* Generativiy có thể hiểu là truyền đạt lại những gì bạn đã học được để giúp thế hệ kế tiếp đạt được mục tiêu và ước mơ của họ.

Câu chuyện cuộc đời của chúng ta không được tạo ra từ một thế giới chân không: Chúng ta tiếp thu những gợi ý và những câu chuyện văn hóa (như những câu chuyện cổ tích của người Mỹ tới những câu chuyện cổ tích giàu có) và chúng tạo ra sự sâu sắc trong những câu chuyện mà chúng ta kể.

Các chủ đề văn hóa và thần thoại được sử dụng và coi như của riêng, và chúng ta tìm thấy các cách thức để gán ghép chúng vào trong những câu chuyện riêng của chúng ta.

“Có những ý nghĩa văn hóa đối với các câu chuyện về sự cứu chuộc này…Bạn nghe được rằng con người đã trở thành những người kể chuyện – điều đó là sự thật, não chúng ta được thiết lập như vậy. Nhưng chúng được phát triển trong các văn hóa… và những câu chuyện kể của chúng ta thường được định hình bởi văn hóa”, McAdams nói.

6.       Bạn có thể kiểm soát các câu chuyện của riêng bạn.

Mặc dù những câu chuyện này phần lớn được xác định bởi văn hóa và tính cá nhân, chúng ta có một mức độ kiểm soát đối với những gì chúng ta nói về bản thân chúng ta trong câu chuyện đời sống. Ngay cả khi chúng ta lấy những chủ đề từ cuộc sống xung quanh, chúng ta là những người đưa chúng lại với nhau và chúng ta chúng ta có cảm giác ý thức làm như vậy.
McAdams nói: “Ở cấp độ nhận thức có ý thức, chúng ta có thể làm những điều để câu chuyện của chúng ta trở nên tốt hơn”. “Cố gắng làm nổi bật những điều tích cực.…khi bạn đang ở giữa sự hỗn loạn và rối rắm, thật khó để nhìn lại và nói rằng “Có lẽ tôi sẽ đi đâu đó với những điều tích cực này”.
Tất nhiên, nhìn vào mặt tích cực cũng cần được cân bằng với quan điểm thực tế về các sự kiện trong cuộc sống của cuộc đời mỗi người. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng “những người lạc quan thực tế” – người lạc quan có quan điểm trung thực về các sự kiện – có thể hạnh phúc hơn và thành công hơn những người bi quan.

Việc đặt những câu hỏi lớn về chúng ta là ai và mục đích của chúng ta là gì trong cuộc sống (đó là những câu hỏi mà chúng ta thường hỏi khi là thanh thiếu niên và sinh viên đại học) có thể là những điều quan trọng để định hình và định danh sự kể chuyện và dành thời gian để hỏi chúng cũng giúp chúng ta kiểm soát những câu chuyện cuộc đời của riêng chúng ta.

“Tôi nghĩ rằng con người cần phải tự vấn bản thân và tôn trọng những câu chuyện cuộc đời của họ: Tôi đang cố gắng làm gì ở đây? Lợi ích lâu dài là gì và làm cách nào tôi có thể giúp cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn mà tôi trải qua?” theo McAdams.

Facebook Comments

LEAVE A REPLY