SHARE
  • Định nghĩa

Lòng tự trắc ẩn (self-compassion) bắt đầu được quan tâm nghiên cứu từ năm 2003, được đánh dấu bằng bài viết khoa học được công bố bởi Kristin D. Neff về định nghĩa và thang đo lòng tự trắc ẩn.

Kristin D. Neff (2003b) cho rằng: “Lòng tự trắc ẩn đơn giản là lòng trắc ẩn hướng vào nội tâm bản thân ta, liên hệ với chính ta như là đối tượng của sự quan tâm và chăm sóc khi đối mặt với các trải nghiệm đau khổ” (Neff, 2003b, tr.224).

Neff chỉ ra rõ tự trắc ẩn không phải là ích kỉ, tự cho mình là trung tâm, ông nhấn mạnh rằng: Lòng tự trắc ẩn không phải là trở nên ích kỉ hay coi mình là trung tâm, cũng không phải là sự ưu tiên các nhu cầu của bản thân mình hơn những người khác. Thay vào đó, lòng trắc ẩn là sự thấu hiểu rằng tất cả mọi người, bao gồm cả bản thân mình, đều xứng đáng được nhận lòng trắc ẩn. Lòng tự trắc ẩn bao gồm việc trở nên cởi mở và thương cảm với đau khổ của chính mình, trải nghiệm cảm xúc của quan tâm và nhân ái với chính mình, đem lại sự thấu hiểu, thái độ trung lập với sự thiếu thốn và thất bại của bản thân và nhận ra kinh nghiệm của mình là một phần của trải nghiệm của toàn nhân loại (Neff, 2003b, tr.224).

Neff cũng cho rằng lòng tự trắc ẩn là khá khác biệt với lòng tự thương hại. Ông chỉ ra, khi một người cảm thấy thương hại người khác, họ thường cảm thấy riêng biệt và ngắt kết nối với người khác, trong khi ở lòng trắc ẩn, họ cảm thấy kết nối với người khác và biết rằng sự đau khổ đó là một phần của trải nghiệm của nhân loại. Tương tự, khi cảm thấy tự thương hại, ta sẽ nhấn chìm trong vấn đề của chính mình và quên mất rằng người khác cũng có vấn đề tương tự. Họ lờ đi mối quan hệ liên cá nhân với người khác, thay vì cảm thấy họ chỉ là một người trên thế giới đang đau khổ. Lòng tự thương hại nhấn mạnh cảm giác mình là trung tâm, tách biệt với người khác và thổi phồng quy mô của nỗi đau khổ cá nhân. Lòng tự trắc ẩn cho phép một người thấy sự liên kết giữa trải nghiệm, đau khổ của mình với người khác mà không mất đi sự kết nối hay bóp méo sự thật (Neff 2003a, tr.88).

Neff phủ nhận quan điểm cho rằng nếu có tự trắc ẩn quá nhiều sẽ dẫn tới sự tiêu cực, ông cho rằng đó chưa phải sự tự trắc ẩn chân thật, thậm chí là sự thấp của lòng tự trắc ẩn. Khi có tự trắc ẩn, con người không phê bình quá gay gắt với những thất bại của bản thân, không cho rằng thất bại sẽ dẫn tới bị xem thường mà cần khuyến khích hành động cho sức khỏe và chức năng tối ưu của mình với lòng nhân ái và kiên nhẫn (Neff 2003a, tr.87).

  • Các nghiên cứu trên thế giới

Sau khi được công bố lần đầu năm 2003, đến nay đã có hàng trăm nghiên cứu trên thế giới về lòng tự trắc ẩn được công bố. Đặt biệt là các nghiên cứu về mối tương quan giữa lòng tự trắc ẩn với các yếu tố tâm lý khác.

Mối liên hệ giữa lòng tự trắc ẩn và hạnh phúc, lòng tự trọng, sự lo âu, trầm cảm được quan tâm nghiên cứu. Công trình khoa học “Self-compassion, self-esteem, and well-being. Social and Personality Compass” đã chỉ ra rằng: Lòng tự trắc ẩn  có thể mang lại những lợi ích sức khoẻ tinh thần tương tự như lòng tự trọng, nhưng với ít nhược điểm hơn như ít đánh giá hơn và ổn định hơn. Trong khi lòng tự trọng đòi hỏi phải đánh giá chính mình và thường liên quan đến sự cần thiết phải là đặc biệt và trên trung bình, thì tự trắc ẩn không đòi hỏi tự đánh giá hoặc so sánh với người khác mà thay vào đó, là nhìn nhận một cách nhân ái, kết nối với chính mình ngay cả trong những trường hợp thất bại, nhận thức không đầy đủ, và không hoàn hảo (Neff, 2011, tr.1). Nghiên cứu “Men’s Self-Compassion and Self-Esteem: The Moderating Roles of Shame and Masculine Norm Adherence. Psychology Of Men; Masculinity” chỉ ra lòng tự trắc ẩn và lòng tự trọng có tương quan thuận, khá chặt với nhau (r=0,51, p<0,01) (Reilly, E. D., Rochlen, A. B.; Awad, G. H., 2013, tr.3). Một nghiên cứu khác mang tên “The Relationships Between Psychological Flexibility, Self-Compassion, and Emotional Well-Being” cho thấy: lòng tự trắc ẩn có tương quan thuận và chặt với lòng tự trọng (r= 0,67, p<0,01), tương quan nghịch với mức đô trầm cảm (r=-0,552, p<0,01), tương quan nghịch với sự lo âu (r=-0,353, p<0,01) (Marshall, E. J.; Brockman, R. N. , 2016, tr.67).

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan giữa lòng tự trắc ẩn với sự đánh giá hình ảnh cơ thể và hành vi ăn được công bố. Trong một nghiên cứu khác mang tên “Self-compassion moderates the relationship between body mass index and both eating disorder pathology and body image flexibility” của Kelly và cs ( 2014), 153 nữ sinh viên đã thực hiện một loạt các bảng khảo sát về lòng tự trắc ẩn, cân nặng, lòng tự trọng, hình ảnh cơ thể, thói quen ăn uống và cân nặng – chiều cao thực tế của mình. Nghiên cứu chỉ ra:”Phụ nữ có thể trải nghiệm một hình ảnh cơ thể cùng những thói quen ăn uống tích cực hơn nếu họ đương đầu với những thất vọng và phiền muộn với sự tử tế cùng việc nhận ra rằng những khó khăn đó là một phần thông thường của cuộc sống. Cách chúng ta đối xử với bản thân trong những thời khắc khó khăn, những điều xem ra chẳng liên hệ gì tới ăn uống hay cơ thể, lại có vẻ có ảnh hưởng đến cách thức chúng ta cảm nhận về cơ thể mình cùng cách chúng ta sử dụng thức ăn. Bất kể cân nặng cùa mình như thế nào, những phụ nữ có lòng tự trắc ẩn cao thường có hình ảnh về cơ thể tích cực hơn, đồng thời họ cũng ít lo lắng hơn về cân nặng, hình thể hay việc ăn uống của mình. Khả năng chấp nhận và thông hiểu bản thân không hẳn giúp chúng ta nhìn cơ thể mình theo cách tích cực hơn, mà thực ra giúp ta nhận ra những khiếm khuyết cơ thể của bản thân và chấp nhận chúng.” (Kelly et al., 2014, tr. 446).

  • Các thành tố của lòng tự trắc ẩn

Khái niệm lòng tự trắc ẩn được đông đảo các nhà nghiên cứu đồng ý với  Kristin D. Neff khi đưa ra 3 thành tố của lòng tự trắc ẩn. Và trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng hệ thống lý thuyết của Neff về 3 thành tố của lòng tự trắc ẩn bao gồm:

Nhân ái với bản thân (self-kindness): Neff chỉ ra rằng ở văn hóa phương Tây, người ta nhấn mạnh đặc biệt đến việc đối xử nhân ái với người khác, nhưng lại không chú ý nhiều đến nhân ái với chính mình. Khi chúng ta phạm sai lầm hay thất bại, chúng ta thường rất khắt khe, tự chỉ trích với suy nghĩ “Bạn quá ngu dốt và lười biếng, tôi xấu hổ về bạn”. Chúng ta không thường nói với bản thân những điều như ta nói với người bạn thân của mình, thậm chí như với một người lạ khi họ sai lầm. Hầu hết mọi người báo cáo rằng họ đối xử nhân ái với người khác hơn chính mình (Neff, 2003b) và dù khi xảy ra các vấn đề vượt ngoài tầm kiểm soát như mất việc hay tai nạn, chúng ta thường không cảm thông với chính mình như cách mà chúng ta làm thế với một người bạn trong tình huống tương tự. Với lòng nhân ái với bản thân, chúng ta khuyến khích và thấu hiểu với chính mình. Những đoạn độc thoại nội tâm của chúng ta sẽ là nhân từ và khích lệ hơn là khắt khe và hạ thấp. Điều đó có nghĩa là thay vì liên tục làm kiệt sức bản thân vì cho rằng mình không đủ tốt, chúng ta hiểu biết một cách nhân ái rằng chúng ta đang làm tốt nhất những gì ta có thể. Cũng vậy, khi tình thế bên ngoài đầy thách thức và quá khó khăn, chúng ta trấn an và khích lệ chính mình. Chúng ta cảm thông nỗi đau của chính ta một cách êm ái và mong muốn làm dịu đi những đau khổ đang xuất hiện.

Tính tương đồng nhân loại (common humanity): Tính tương đồng nhân loại trong lòng tự trắc ẩn bao gồm việc nhận ra rằng mọi người đều có thể thất bại, sai lầm và phạm lỗi. Chúng ta không làm cái chúng ta muốn và cảm thấy thất vọng về chính mình hoặc hoàn cảnh bên ngoài. Đây là một phần trong kinh nghiệm nhân loại (ai cũng phải trải qua), một sự thật cơ bản trong cuộc sống của tất cả mọi người. Chúng ta không đơn độc trong sự không hoàn hảo. Đúng hơn, sự không hoàn hảo của chúng ta khiến chúng ta là một phần của loài người. Thường thì chúng ta cảm thấy riêng biệt và tách rời người khác khi tính đến sự vật lộn trong cuộc sống, những thất bại ta trải qua và cảm thấy rằng chỉ mình mình mới gặp những điều khó khăn này. Chúng ta nghĩ chúng ta không bình thường, rằng mọi chuyện đang đi sai hướng, chúng ta quên mất rằng những thất bại của chúng ta thực sự là điều bình thường. Góc nhìn hạn hẹp này khiến ta cảm thấy cô đơn và riêng biệt, khiến đau khổ của chúng ta tệ hơn nữa. (Neff, 2011). Với lòng tự trắc ẩn, chúng ta mang quan điểm trắc ẩn người khác vào bên trong mình, cho phép chúng mở rộng hơn trong chính ta và trong cuộc sống của ta. Bằng việc nhớ chia sẻ kinh nghiệm nhân loại, chúng ta cảm thấy ít tách biệt hơn khi chúng ta đau khổ. Với điều này lòng tự trắc ẩn trở nên khác biệt với sự tự thương hại, tự thương hại là thái độ chỉ mình tôi và từng người trở nên tách biệt trong vấn đề của họ mà quên mất rằng người khác cũng có những vấn đề tương tự. Lòng tự trắc ẩn giúp nhận ra rằng tất cả chúng ta đều có đau khổ và như vậy khuyến khích sự kết nối quan niệm rằng đau khổ này cũng có ở người khác.

– Chánh niệm (Mindfulness): là thành tố của lòng tự trắc ẩn bao gồm việc lưu tâm đến nhận thức về những suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực của chúng ta, chúng ta tiếp cận chúng với sự cân bằng và bình thản. Khi chúng ta có chánh niệm, chúng ta có kinh nghiệm để đón nhận khoảnh khắc hiện tại mà không phán xét, tránh xa hay kìm nén (Bishop & cs. 2004). Chánh niệm là thành tố cần thiết của lòng tự trắc ẩn. Bởi vì, chúng ta trở nên ý chí hơn để đón nhận và trải qua các suy nghĩ và cảm xúc đau đớn khi gắn chặt chúng ta với lòng trắc ẩn. Trong khi nó có vẻ như nỗi đau của chúng ta được che đậy,  nhiều người không hiểu chúng ta đau như thế nào, đặc biệt nỗi đau đó được bắt nguồn từ sự tự chỉ trích của chính chúng ta. Hoặc khi đối mặt với thách thức trong cuộc sống, chúng ta thường không dừng lại để xem nó thực sự khó khăn thế nào trong lúc này. Chánh niệm về các suy nghĩ và cảm xúc tiêu cực có nghĩa là chúng ta không trở nên quá đồng nhất với chính mình. Hơn là việc tự chấp nhận tiêu cực con người thật của ta, chúng ta có thể nhận ra những suy nghĩ và cảm xúc của chúng ta đang giúp cho chính ta giảm bớt niềm tin mù quáng vào sự không hoàn hảo, vô giá trị của ta. (Kristin D. Neff, Katie A. Dahm, 2015, tr. 123-125).

Tác giả: Peter Tran

Facebook Comments

LEAVE A REPLY